Monthly Archives: October 2017

Sử dụng Vitamin C trong nuôi trồng thủy sản

Vitamin và khoáng chất đóng vai trò quan trong thành phần dinh dưỡng của các loài động vật thủy sản, nhất là trong mô hình nuôi thâm canh sử dụng thức ăn công nghiệp. Việc bổ sung các khoáng vi lượng hay nguyên tố vi lượng cho tôm cá không những giúp cho loài thủy sản nuôi khỏe mạnh mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường khả năng miễn dịch của loài nuôi.

Sử dụng Vitamin C trong nuôi trồng thủy sản

1. Vai trò của Vitamin C

– Vitamin C rất cần thiết cho quá trình tổng hợp collagen và cartilage ở động vật có xương sống. Bên cạnh đó, Vitamin C được xem như là chất kháng ôxy hóa, kích thích hệ miễn dịch, hỗ trợ hấp thu sắt, giúp ngăn ngừa hiện tượng thiếu máu thường gặp và giảm stress.

– Cá và giáp xác không có khả năng tổng hợp Vitamin C do thiếu enzym L-gulono-lactone oxidase, mà thường hấp thu từ thức ăn.

– Thức ăn thiếu vitamin C là nguyên nhân dẫn đến các triệu chứng bệnh lý như bệnh vẹo cột sống ở cá và bệnh chết đen ở tôm. Với tôm giai đoạn ấu trùng cần Vitamin C nhiều hơn so với giai đoạn trưởng thành. tag: máy quạt nước

 2. Biểu hiện tôm, cá thiếu Vitamin C

– Khi cá thiếu Vitamin C sẽ dẫn đến việc giảm ăn, yếu ớt và hoạt động kém, nặng hơn là bị biến dạng cấu trúc, dị tật xương sống, ưỡn lưng… hay xuất hiện hiện tượng xuất huyết gốc vây và da, mất sắc tố ở da, tổn thương da và hàm lượng khoáng giảm ở cá rô phi.

– Ở tôm, thức ăn thiếu Vitamin C là nguyên nhân dẫn đến bệnh chết đen do màu sắc cơ thể chuyển sang màu đen tối và làm giảm tỷ lệ sống của ấu trùng tôm, tăng thời gian biến thái.

* Dấu hiệu bệnh lý và phân bố của hội chứng chết đen ở tôm sú khi thiếu Vitamin C

– Đầu tiên xuất hiện đốm đen ở phần cơ dưới lớp vỏ kitin của phần bụng, đầu ngực và các khớp nối giữa các đốt.

– Bệnh nặng vùng đen xuất hiện lan trên mang tôm và thành ruột. Tôm bỏ ăn, chậm lớn.

– Đàn tôm mắc bệnh có thẻ bị chết 1- 5% hàng ngày. Tổng tỷ lệ hao hụt rất lớn có thể lên đến 80- 90%.

– Hiện tượng bệnh lý giống bệnh ăn mòn nhưng chỉ khác ở phần vỏ kitin không bị mòn.

3. Nhu cầu và chế độ sử dụng

– Hầu hết các loài cá, tôm đều có các yêu cầu về chế độ sử dụng Vitamin C theo định lượng sẽ phụ thuộc vào một số yếu tố gồm: thói quen, kích thước và tốc độ tăng trưởng của tôm, cá nuôi; hình thức nuôi; quá trình sản xuất khẩu phần thức ăn; các đặc tính của môi trường nước và tình trạng sinh lý của cá, tôm; giai đoạn phát triển.

–  Nhu cầu Vitamin C thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển. Ở giai đoạn ấu trùng tôm, cá cần được cung cấp lượng Vitamin C nhiều hơn giai đoạn trưởng thành và giai đoạn bố mẹ (Ở giai đoạn ấu trùng tôm càng xanh cần bổ sung 200 mg Vitamin C/kg thức ăn, giai đoạn tôm giống cần bổ sung 100 mg/kg thức ăn).

– Đối với cá nuôi, nhu cầu Vitamin C tùy theo loài (cá chép bột có nhu cầu Vitamin C là 45 mg/kg, trong khi cá chẽm bột chỉ 20 mg/kg).

– Tôm, cá bị bệnh thì nhu cầu bổ sung Vitamin C cũng sẽ cao hơn so với tôm, cá khỏe mạnh.

– Để hạn chế sự hao hụt Vitamin C, người ta phải bảo vệ vật nuôi trước khi bổ sung vào thức ăn ở các dạng khác nhau. Người nuôi có thể bổ sung Vitamin C vào thức ăn loại vi bọc do hàm lượng Vitamin C ở dạng này khoảng 80 – 90% và có thể lưu trữ trong vài tháng.

4. Thời điểm và liều lượng bổ sung

– Trong nuôi thủy sản, khi thời tiết thay đổi hoặc xung quanh vùng nuôi có dịch bệnh cũng nên bổ sung thường xuyên Vitamin C vào thức ăn cho vật nuôi.

– Liều lượng sử dụng tùy thuộc vào loại Vitamin C, khoảng 500 – 1.000 mg/kg thức ăn. Đồng thời, nên định kỳ bổ sung khoảng 3 – 5 ngày/tháng; khi cá bị bệnh cần tăng thêm liều lượng và bổ sung 5 – 7 ngày liên tục.

Lưu ý: Nên bổ sung Vitamin C với thuốc bổ, men tiêu hóa nhằm tăng sức đề kháng cho cá, tôm trước khi cho chúng dùng kháng sinh để điều trị bệnh. Ngoài ra, không nên sử dụng Vitamin C cùng với các loại kháng sinh điều trị bệnh như ampicilin, amoxycilin… vì các loại kháng sinh này không bền khi ở cùng Vitamin C. tag: may quat nuoc

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/su-dung-vitamin-c-trong-nuoi-trong-thuy-san-59f694e0e49519e44b8b456c.html

Các thành phần bổ sung trong chế độ ăn

Những công nghệ mới nổi để cải thiện môi trường đường ruột đang được nghiên cứu một cách nghiêm túc và đang bắt đầu được ứng dụng trong thức ăn nuôi trồng thủy sản. tag: phần mềm nông nghiệp

Sử dụng chế phẩm sinh học trong thức ăn, dù thành công trong dinh dưỡng cho người và động vật, nhưng chưa được chấp nhận thích đáng trong nuôi trồng thủy sản.

Các thành phần bổ sung trong chế độ ăn

Các phương pháp phân phát thức ăn cải tiến và những hiểu biết tốt hơn về hệ vi sinh vật đường ruột của các loài động vật thủy sản có thể thay đổi vấn đề này trong tương lai (Balcazar et al. 2006). tag: phần mềm phối trộn thức ăn

Sử dụng các chất kích thích miễn dịch và chế độ ăn giảm stress để tăng cường phòng vệ cho động vật trong các giai đoạn stress nguy cấp đã và đang được khuyến khích trong ngành thức ăn thương mại.

Các hỗn hợp đã từng được đề xuất như là beta-glucan, các sản phẩm vi sinh và các chất dẫn xuất từ thực vật có khả năng kích hoạt các cơ chế phòng vệ bẩm sinh bằng cách hoạt động như là các thụ thể khởi động sự hoạt hóa gen (Galindo-Villegas và Hosokawa, 2004).

Probiotic (vi khuẩn có lợi) và prebiotic (chất tiền sinh) đang trong giai đoạn nghiên cứu tương tự thu hút rất nhiều sự quan tâm (Balcazar et al., 2006).

Axit hữu cơ và các loại tinh dầu đã được đề xuất sử dụng để điều chỉnh các nhóm vi khuẩn đường ruột, tăng cường sức đề kháng đối với một số tác nhân gây bệnh đường ruột cơ hội (Luckstadt, 2008), tạo điều kiện cho hệ vi khuẩn đường ruột khỏe mạnh, đồng thời giảm mật độ các chủng vi khuẩn có khả năng gây bệnh trong đường ruột (Luckstadt, 2008; Ringo et al, 2010.)

Nhìn chung, việc áp dụng các chiến lược dinh dưỡng và dùng các chất bổ sung cho chế độ ăn có thể điều chỉnh khả năng thích ứng toàn diện, sức khỏe đường ruột và đáp ứng miễn dịch của động vật thủy sản. tag: phần mềm phối trộn phân bón

Dự kiến sẽ có nhiều sản phẩm hữu ích trong tương lai để góp phần phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững hơn bằng cách tránh sử dụng thuốc.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cac-thanh-phan-bo-sung-trong-che-do-an-36722.html

Khuyến nghị từ Advocate GAA về việc đối phó với EMS

+Loại bỏ EMS và các mầm bệnh khác từ nước ao nuôi

Khuyến nghị từ Advocate GAA về việc đối phó với EMS

+Tạo lập một quần thể vi khuẩn cân bằng. tag: phần mềm nông nghiệp

+Lai giống kháng bệnh

+Thả tôm giống / postlarvae (hậu ấu trùng) khỏe mạnh

+Quản lý chặt chẽ chất lượng nước và bùn đáy ao

+Khử trùng bằng chlorine hoặc ozone để loại bỏ đa tác nhân gây bệnh

+Tạo ra một cộng đồng vi khuẩn hoàn thiện. tag: phần mềm phối trộn thức ăn

+Sử dụng chế phẩm sinh học và nuôi ghép để ổn định nước

+Tạo lập quần thể biofloc từ mức độ thấp đến trung bình

+Tránh cho ăn quá mức

+Loại bỏ / hút bùn thường xuyên

+Sử dụng các ao ương dưỡng để dưỡng tôm giống nhỏ cho đến khi đạt kích cỡ lớn hơn và khỏe hơn, trong lúc này cũng là để xác định tôm không nhiễm EMS

+Sử dụng các ao nuôi thâm canh an toàn sinh học

+Xác định các loại thức ăn bổ sung nhằm giảm tỷ lệ mắc EMS

+Áp dụng các kỹ thuật quản lý trang trại tổng hợp

+Tránh vị trí trang trại có đầu vào chung với kênh xả

+Xem xét khả năng tải của hệ sinh thái. tag: phần mềm phối trộn phân bón

+Khuyến khích phát triển các phòng thí nghiệm được trang bị tốt để phát hiện EMS tốt hơn.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/khuyen-nghi-tu-advocate-gaa-ve-viec-doi-pho-voi-ems-36723.html

Loài nuôi, quy mô ao nuôi xác định phương pháp sục khí

Lượng mức sục khí có thể tăng lên khi mức độ cho ăn tăng để duy trì năng lượng. Trong ao nuôi tôm thường có thể giảm sục khí từ giữa buổi sáng đến xế chiều. tag: phần mềm nông nghiệp

Nghiên cứu đã chứng minh có thể tiết kiệm năng lượng đáng kể bằng cách sử dụng hệ thống sục khí tự động.

Loài nuôi, quy mô ao nuôi xác định phương pháp sục khí

Tiến sĩ Claude E. Boyd, Trường Thủy sản, Nuôi trồng Thủy sản và Khoa học Thủy sản

Đại học Auburn, Auburn, Alabama 36830, Hoa Kỳ

Người nuôi tôm bây giờ có xu hướng lắp đặt sục khí quạt guồng tương xứng đều khắp bề mặt ao để đẩy cặn lắng lan đều hơn ở đáy ao.

Ao nuôi trồng thủy sản ngày càng chuyển đổi sang thâm canh, do vậy sử dụng thức ăn nhiều hơn và sục khí cơ học là cách thực hành phổ biến.

Có nhiều loại hệ thống sục khí trong ao, nhưng hầu hết hoạt động theo một trong hai nguyên tắc.

Với sục khí “tóe nước”, nước văng vào không khí để tăng diện tích tiếp xúc giữa nước và không khí làm khuếch tán oxy từ không khí vào nước.

Ngoài ra, các bong bóng khí có thể thoát vào trong nước từ máy khuếch tán đặt gần đáy ao. Với sục khí “bọt”, những bong bóng nhỏ nổi lên qua các cột nước, tạo ra một vùng bề mặt rộng cho sự khuếch tán oxy từ không khí bên trong các bong bóng vào trong nước.

Cũng có những nỗ lực để phát triển hệ thống tiếp xúc oxy tinh khiết dùng cho ao, nhưng chưa sẵn có các thiết bị ưng ý.

Các loại sục khí

Các loại sục khí tóe nước phổ biến là bơm thẳng đứng (sục khí tuabin) và sục khí quạt guồng. Sục khí bơm cánh quạt-khuếch tán dựa trên nguyên tắc venturi để đưa các bong bóng không khí vào nước.

Hệ thống sục khí khuếch tán không khí bao gồm một máy thổi không khí được nối bằng ống đến một mạng lưới khuếch tán trên đáy ao nhả bong bóng không khí nhỏ vào nước.

Tất cả các loại sục khí này đã được sử dụng thành công trong nuôi trồng thủy sản, nhưng mỗi loại có một số ưu và nhược điểm nhất định thích hợp với một số ứng dụng này hơn là các ứng dụng khác.

Các loại sục khí bơm thẳng đứng không giúp nước lưu thông tốt và phù hợp nhất cho các ao diện tích nhỏ 0,25 ha hoặc nhỏ hơn.

Sục khí quạt guồng đặc biệt rất thích hợp cho các ao lớn hơn do tạo dòng chảy mạnh, tuy nhiên cũng có thể sử dụng một cách hiệu quả các loại sục khí quạt guồng nhỏ hơn trong các ao nhỏ như là 0,1 ha.

Độ sâu không phải là yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu suất của sục khí bơm thẳng đứng và quạt guồng, nhưng tốt nhất sử dụng trong ao có độ sâu nói chung vào khoảng 0,75 và 2,00 m.

Có thể sử dụng các loại sục khí bơm cánh quạt-khuếch tán ở đa dạng kích cỡ ao. Trong ao nông dưới 0,75 m, tuy nhiên có thể gây ra xói mòn ở đáy ao.

Các loại này có khả năng tạo ra sự lưu thông nước sâu trong các ao có độ sâu hơn 2,00 m. Sự kết hợp giữa sục khí quạt guồng và sục khí bơm cánh quạt-khuếch tán có thể hiệu quả nhất trong trộn nước ao, đặc biệt là ở các ao sâu.

Các hệ thống khuếch tán không khí có nhược điểm là hiệu suất kém ở các ao nước nông, vì thời gian lơ lửng của bong bóng trong nước quá ngắn nên khuếch tán ít oxy vào trong nước.

Hơn nữa, các hệ thống này không phù hợp cho các ao nuôi lớn bởi vì chiều dài ống quá dài và sử dụng nhiều ống khuếch tán. Các hệ thống khuếch tán không khí thích hợp nhất cho các ao rộng 0,25 ha hoặc nhỏ hơn.

Những loại sục khí này đặc biệt hợp lý với các cụm liên kết các ao nhỏ trong đó một máy thổi khí có thể cung cấp không khí đến các ống khuếch tán ở nhiều ao.

Một số nhà sản xuất đặt hệ thống khuếch tán không khí ở phía trước sục khí quạt guồng. Trong ao điển hình, nước quá nông để tạo sự vận chuyển ôxy hiệu quả bằng sục khí khuếch tán không khí.

Theo ý kiến ​​của tác giả có thể hiệu quả hơn là đơn giản đầu tư dùng nhiều sục khí quạt guồng hơn là lắp đặt các hệ thống khuếch tán không khí để hỗ trợ sục khí quạt guồng.

Cũng có thể sử dụng một số loại máy bơm thổi khí trong ao nuôi thủy sản. Dù tạo được lưu thông cột nước theo chiều dọc thì các loại máy này không phải là sục khí thực sự.

Các bong bóng nổi lên trong ống thổi khí cung cấp thêm oxy, nhưng lượng oxy vận chuyển tính trên một đơn vị năng lượng ít hơn nhiều so với các loại sục khí tiêu chuẩn.

Hiệu suất vận chuyển oxy

Hiệu suất vận chuyển oxy của các loại sục khí cơ học trong các ao khác nhau trong ngày liên quan đến nồng độ oxy hòa tan.

Nồng độ oxy hòa tan thường thấp nhất lúc sắp bình minh, tăng lên trong ngày đến đỉnh điểm vào giữa buổi chiều và sau đó giảm vào ban đêm.

Sục khí hữu hiệu nhất trong việc chuyển oxy vào nước khi không có oxy hòa tan và giảm hiệu suất khi nồng độ oxy hòa tan tăng lên. tag: phần mềm phối trộn thức ăn

Khi nước đã bão hòa với oxy hòa tan, sục khí làm ngừng chuyển oxy vào nước. Khi nước quá bão hòa với oxy hòa tan – thường xảy ra vào buổi chiều – sục khí làm tăng tốc độ khuếch tán oxy từ nước vào không khí.

Nồng độ oxy hòa tan tối thiểu có thể chấp nhận được đối với các ao nuôi trồng thủy sản trước kia là 2 mg/L cho hầu hết các loài nước ấm.

Tuy nhiên, dựa trên kinh nghiệm và các kết quả nghiên cứu, quan điểm này đã thay đổi. Ngày nay, nhiều nhà nghiên cứu cảm thấy rằng nồng độ oxy hòa tan trong các ao nước ấm không nên giảm xuống dưới 4 mg/L.

Vi khuẩn nitrat hóa không hoạt động tốt khi nồng độ oxy hòa tan giảm xuống 2 hoặc 3 mg/L theo chuẩn hàng ngày. Do đó, việc duy trì nồng độ oxy hòa tan trên 4 mg/L cũng thúc đẩy quá trình oxy hóa nitơ amoniac có khả năng gây độc thành nitrat tương đối vô hại.

Sục khí và hệ sinh vật ao

Hầu hết các nhà sản xuất có xu hướng coi sục khí là một phương tiện cung cấp thêm oxy cho quá trình hô hấp của các loài nuôi để có thể tăng năng suất vụ chưa thu hoạch.

Đúng là vậy nhưng sục khí cũng cung cấp oxy cho vi sinh vật sử dụng để phân hủy thức ăn thừa, phân và sinh vật phù du chết. Sinh vật phù du sống cũng sử dụng oxy cho hô hấp.

Dù các thành phần tảo của sinh vật phù du tạo ra nhiều ôxy qua quá trình quang hợp hơn là sử dụng oxy trong hô hấp ban ngày nhưng tảo tiếp tục hô hấp vào ban đêm. Ngược lại, sự sản xuất oxy ngừng lại trong quá trình quang hợp tối.

Có rất nhiều sự cạnh tranh giữa vi sinh vật và các loài nuôi đối với oxy hòa tan được đưa vào nước nhờ sục khí. Cuộc cạnh tranh này không thay đổi nhiều liên quan đến mật độ nuôi trong ao nước xanh, bởi vì lượng chất thải hữu cơ và sinh vật phù du có xu hướng tăng tỷ lệ thuận với sự gia tăng mức độ cho ăn.

Sục khí và thức ăn thủy sản

Căn cứ nhu cầu oxy sinh hóa của thức ăn (khoảng 1,2 kg oxy/kg thức ăn) và hiệu suất vận chuyển oxy trung bình của các loại sục khí, cần sục khí khoảng 1 hp cho mỗi 10 kg/ha thức ăn tăng thêm hàng ngày đưa vào ao để duy trì nồng độ oxy hòa tan vào ban đêm trên 4 mg/L.

Hầu hết các ao có thể duy trì vụ nuôi chưa thu hoạch một cách an toàn là 1.000 kg/ha không có sục khí, tương ứng lượng thức ăn đầu vào hàng ngày là khoảng 30 kg/ha ở hầu hết các ao.

Vì vậy, nếu mục tiêu để sản xuất 6.000 kg/ha (180 kg thức ăn/ha/ngày ở đầu vào 3% trọng lượng thân / ngày), hiệu suất sục khí ở cuối vụ nên vào khoảng 15 hp/ha.

Tất nhiên, nếu mong muốn một hệ số an toàn thì sục khí vào cuối vụ có thể căn cứ trên toàn bộ lượng thức ăn đầu vào là ở mức 18 hp/ha. Lượng mức sục khí có thể tăng khi mức độ cho ăn tăng để bảo toàn năng lượng hơn là sử dụng toàn bộ lượng mức sục khí trong suốt thời gian nuôi.

Trong nuôi cá rô phi có thể chấp nhận nồng độ oxy hòa tan tối thiểu thấp hơn 2 hoặc 3 mg/L.

Hình thức nuôi này giảm lượng mức sục khí cần có cho mỗi 10 kg/ha thức ăn tăng thêm tương ứng với 0,5 hp hoặc 0,75 hp.

Trong nuôi cá thường có thể cho phép tắt sục khí giữa buổi sáng và không mở lại cho đến đầu chiều tối.

Tôm sống dưới đáy ao – nơi mà nồng độ oxy hòa tan thấp nhất và sự chuyển động của nước có oxy ngang qua đáy ao rất có lợi. Tuy nhiên, thường có thể giảm lượng mức sục khí trong ao nuôi tôm từ giữa buổi sáng đến đầu chiều tối.

Bố trí sục khí

Người nuôi thường xuyên hỏi về những cách tốt nhất để xác định vị trí lắp đặt sục khí trong ao và rõ ràng không có kết quả nghiên cứu cuối cùng để cho một câu trả lời có thể biện minh được.

Trong các ao cá có thể chấp nhận đặt một hoặc nhiều sục khí lớn ở một đầu ao, bởi vì cá sẽ di chuyển vào vùng nước có oxy.

Nếu ao hình chữ nhật, sục khí nên đưa dòng nước dọc theo trục dài của ao. Tôm không di chuyển đến vùng nước có oxy như là cá, vì vậy cách hợp lý là sử dụng nhiều sục khí nhỏ để cung cấp sự thông khí tương đối đều khắp toàn bộ diện tích ao.

Các hệ thống khuếch tán không khí thích hợp nhất cho các ao / bể nhỏ đủ sâu để cho oxy khuếch tán từ các bong bóng không khí nổi lên vào trong nước.

Trước kia, sục khí được bố trí trong các ao nuôi tôm để tạo một dòng chảy vòng tròn, nhưng kiểu này thường tạo cặn lắng ở vùng giữa ao.

Người nuôi tôm bây giờ có xu hướng lắp đặt sục khí tương đối đều khắp bề mặt ao để bùn cặn lắng lan đều hơn trên đáy.

Cho dù áp dụng mô hình lắp đặt sục khí nào thì đều cần phải chú ý giữ cho dòng nước mạnh không làm xói mòn bờ và tăng cặn lắng đọng trên đáy ao.

Theo dõi oxy hòa tan

Thực hiện đo oxy hòa tan thường xuyên trong ao có sục khí để đảm bảo đủ lượng mức sục khí nhằm tránh nồng độ thấp không mong muốn.

Có thể sử dụng các hệ thống tự động để tắt và mở sục khí tùy theo điểm đặt oxy hòa tan cao hơn và thấp hơn. Lợi ích thứ hai của bộ điều khiển sục khí là có thể lưu lại nồng độ oxy hòa tan theo thời gian.

Nghiên cứu đã chứng minh có thể tiết kiệm năng lượng đáng kể bằng cách sử dụng hệ thống sục khí tự động. tag: phần mềm phối trộn phân bón

Chi phí của các bộ điều khiển này đã giảm xuống và độ tin cậy tăng lên trong những năm gần đây. Tại Mỹ, rất nhiều người nuôi cá da trơn đã chấp nhận sử dụng hệ thống sục khí tự động.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/loai-nuoi-quy-mo-ao-nuoi-xac-dinh-phuong-phap-suc-khi-36724.html

Sử dụng chế phẩm vi sinh hiệu quả

Bản chất của CPVS

Là các chế phẩm có nguồn gốc từ vi sinh vật hữu ích, được tạo ra bằng con đường sinh học, rất đa dạng với nhiều tên thương mại khác nhau. Chúng gồm hai loại: loại xử lý môi trường và loại trộn vào thức ăn. tag: phần mềm nông nghiệp

Sử dụng chế phẩm vi sinh hiệu quả

Thành phần của CPVS rất đa dạng, có thể chứa chỉ một loài hay rất nhiều loài vi khuẩn, có thể bổ sung thêm các men phân giải hữu cơ, các vitamin hay các chất chiết xuất sinh học… CPVS thường được tạo nên từ 3 thành phần:

– Các chủng vi khuẩn có lợi, có thể tham gia sử dụng và phân hủy các hợp chất hữu cơ như: Bacillus sp., Nitrobacter sp., Nitrosomonas sp., Clostridium sp, Cellulomonas sp, Lactobacillus sp, L.acidophillus, L.casei, L.rhamnosus, L.bulgaricus, Streptococcus sp., Sacharomyces sp

– Các loại enzyme hữu cơ, xúc tác cho quá trình phân hủy của các vi sinh vật như: Protease, Lypase, Amyllase, Chitinnase…

– Các chất dinh dưỡng sinh học để kích hoạt sinh trưởng ban đầu hệ vi khuẩn có lợi.

Công dụng của CPVS

CPVS được sử dụng để phân hủy các hợp chất hữu cơ như thức ăn thừa, phân tôm, xác chết của tảo và sinh vật trong ao…, làm cho đáy ao và chất lượng nước tốt hơn, hạn chế ô nhiễm nước.

Các vi khuẩn có trong CPVS sẽ chuyển hóa các khí độc trong nước thành dạng không độc (như vi khuẩn  Nitrosomonas spp chuyển hóa NH3 thành NO2 và Nitrobacter spp; chuyển hóa NO2 thành NO3, Rhodobacter spp; và Rhodococcus spp có khả năng làm giảm H2S trong bùn đáy ao…).

Ngoài ra, sự phát triển mạnh của các vi khuẩn có lợi sẽ cạnh tranh, chiếm chỗ và át chế sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh.

CPVS còn có thể ổn định sự phát triển của tảo từ các sản phẩm như CO2 và các loại muối dinh dưỡng thông qua hoạt động phân hủy của các vi khuẩn, đồng thời kìm hãm tảo đáy phát triển.

CPVS trộn vào thức ăn, khi vào cơ thể tôm, thúc đẩy quá trình tiêu hóa thức ăn, giúp tôm hấp thụ tối đa thức ăn, đồng thời phát triển mạnh hạn chế sự phát triển của vi khuẩn có hại trong đường ruột.

Cách sử dụng hiệu quả

Để sử dụng hiệu quả CPVS trong nuôi tôm, cần phải thực hiện các biện pháp sau:

Do vòng đời của vi khuẩn trong chế phẩm vi sinh ngắn (7 – 10 ngày) nên muốn duy trì được hệ vi khuẩn có lợi trong ao nuôi để kìm hãm vi khuẩn gây bệnh chuyển hóa khí độc và phân hủy mùn bã hữu cơ thì phải bón CPVS định kỳ cho ao nuôi (7 – 12 ngày/lần).

Cần ổn định các yếu tố môi trường để tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn trong CPVS sinh trưởng, sinh sản và phát triển. tag: phần mềm phối trộn thức ăn

Tùy theo thành phần CPVS mà hoạt động sống, sinh sản của chúng chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường (nhiệt độ, độ mặn, pH, ánh sáng, hóa chất, kháng sinh).

Nhiệt độ càng cao (trong khoảng thích hợp) thì tốc độ phân hủy của vi sinh càng nhanh

. Nhiệt độ thích hợp của hầu hết các vi sinh vật từ 26 – 300C, khi nhiệt độ hạ (< 180C) tỷ lệ sinh trưởng sẽ giảm 50%. Nitrosomonas và Nitrobacter là hai vi khuẩn mẫn cảm ánh sáng, đặc biệt ánh sáng màu xanh dương và tím.

Độ pH thích hợp cho Nitrosomonas từ 7,8 – 8 và Nitrobacter 7,3 – 7,5. Nitrobacter sẽ tăng trưởng chậm hơn ở pH cao tại các ao nuôi có độ mặn cao.

Cần chọn loại CPVS có tính năng phù hợp mục đích sử dụng, như CPVS chứa vi khuẩn BacillusPseudomonas tham gia chuyển hóa các chất hữu cơ thành CO2 và nước, nhóm Nitrosomonas và Nitrobacter chuyển các chất độc hại như NH3, NO2 thành chất không độc NO3-.

Vi khuẩn Nitrosomonas thường sống ở bùn đáy ao và chỉ tồn tại được một thời gian ngắn trong nước nhờ chất dự trữ trong tế bào, khi chất này hết chúng sẽ chết.

Đa số các nhóm vi khuẩn trong CPVS khi bón vào nước đều chịu ảnh hưởng bởi ôxy hòa tan, do vậy cần cung cấp đủ và duy trì hàm lượng ôxy trong nước (> 4mg/l) giúp chúng sinh trưởng và phát triển tốt.

Không nên bón CPVS khi đang dùng hóa chất (BKC, thuốc tím, Chlorine, Iodine…) khử trùng nước và không trộn men vi sinh cho tôm ăn khi đang điều trị bằng thuốc kháng sinh, bởi các hóa chất và kháng sinh có tác dụng diệt khuẩn làm giảm hiệu quả của CPVS. tag: phần mềm phối trộn phân bón

>> Cơ chế tác động vi sinh vật của CPVS trong ao nuôi tôm được thể hiện như sau:

Sản sinh ra vi khuẩn có lợi ức chế vi khuẩn có hại, cạnh tranh chất sắt, thức ăn và nơi cư trú với vi khuẩn có hại. Tăng cường các phản ứng miễn dịch đối với tôm nuôi, ổn định sự phát triển của tảo và cải thiện chất lượng nước.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/su-dung-che-pham-vi-sinh-hieu-qua-36725.html

Nhu cầu Lipid của tôm thẻ chân trắng

Mặc dù, tôm thẻ chân trắng góp phần quan trọng trong ngành công nghiệp nuôi tôm, nhưng các thông tin liên quan về nhu cầu phospholipid và cholesterol trong khẩu phần ăn của chúng ở giai đoạn tôm con (juvenile) còn rất hạn chế. tag: phần mềm nông nghiệp

Các tác giả đã làm một loạt các xét nghiệm để xác định nhu cầu và mối liên hệ giữa phospholipid và cholesterol cho tôm thẻ L.vannamei có trọng lượng 0,4 – 0,9 g.

Nhu cầu Lipid của tôm thẻ chân trắng

Nghiên cứu cũng đánh giá thành phần hoạt tính lecithin từ dầu đậu nành.

Các thí nghiệm này đã được thực hiện trong nhà, với hệ thống bán tuần hoàn khép kín, thay 8% nước hàng ngày.

Phospholipid và tốc độ tăng trưởng của tôm

Phospholipid được biết như là thành phần của màng tế bào; nguồn tín hiệu thứ hai trong tế bào; nguồn choline, inositol, và axit béo; và tham gia vào quá trình chuyển hóa trung gian lipid.

Tôm có thể tổng hợp phospholipid, nhưng quá trình sinh tổng hợp này thường không thể đáp ứng nhu cầu trao đổi chất của chúng trong giai đoạn giống và ấu trùng.

Khẩu phần ăn chứa phospholipid, chẳng hạn như lecithin từ đậu nành và choline phosphatidyl tinh, thúc đẩy tôm tăng trưởng tối ưu và/hoặc chuyển đổi thức ăn trong khoảng 1 – 6,5%  đối với các loài khác nhau ở các giai đoạn khác nhau.

Trong các nghiên cứu của chúng tôi, lecithin từ đậu nành đã khử bớt dầu (97,6% không tan trong acetone) đã được sử dụng như một nguồn cung cấp phospholipid.

Các thành phần chính của lecithin là 25,7% phosphatidylcholine (PC), 21,7% phosphatidylethanolamine (PE), và 8,8% phosphatidylinositol (PI).

Kết quả cho thấy rằng khẩu phần ăn chứa phospholipid làm tăng tốc độ tăng trưởng của tôm rất đáng kể, với tác dụng thúc đẩy tăng trưởng chịu ảnh hưởng bởi khẩu phần cholesterol.

Hàm lượng cholesterol được tính toán trong khẩu phần ăn cơ bản là 0,06%.

Khi hàm lượng cholesterol tăng lên, hàm lượng phospholipid có khuynh hướng giảm.

Nhu cầu phospholipid trong khẩu phần ăn của tôm giống Lvannamei được ước tính là 3% ở mức 0,4% cholesterol, và lên đến 5% ở mức cholesterol bổ sung thấp hơn.

Cholesterol

Cholesterol có chức năng như một thành phần của màng tế bào, và là quan trọng trong việc duy trì độ nhớt của màng.

Nó cũng là một sterol chính trong tôm, một tiền chất của hormone steroid, và một thành phần của lipoprotein.

Tôm không thể tổng hợp cholesterol.

Hàm lượng cholesterol tối ưu trong khẩu phần thức ăn cho tôm đã được trình bày là 0,2 – 2%, và tùy thuộc vào loài, giai đoạn, và các thành phần khác trong khẩu phần thức ăn. Những nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng nếu không bổ sung phospholipid trong khẩu phần ăn của tôm, đòi hỏi cung cấp 0,35% cholesterol cần thiết cho sự tăng trưởng tối đa của L.vannamei. Phospholipid trong khẩu phần ăn có ảnh hưởng đáng kể đến nhu cầu cholesterol trên tôm. tag: phần mềm phối trộn thức ăn

Khi tăng hàm lượng bổ sung phospholipid, nhu cầu cholesterol trong khẩu phần ăn của tôm có xu hướng giảm.

Mối liên hệ giữa Phospholipid và Cholesterol

Phospholipid tăng cường vận chuyển lipid và giúp cho hấp thu, tiêu hóa lipid ở giáp xác.

Phospholipid cũng hoạt động như nơi bổ trợ acyl cho acyl transferase lecithin-cholesterol, để chuyển hóa cholesterol ngoại sinh thành este cholesterol, có nghĩa là tương tác giữa các phospholipid và cholesterol.

Kết quả thí nghiệm trong 6 tuần của chúng tôi về tốc độ tăng trưởng cho thấy, một sự tương tác có ý nghĩa giữa phospholipid và cholesterol trong khẩu phần ăn lên tăng trưởng của tôm giống L.vannamei.

Các phân tích sinh hóa cũng cho thấy thêm các hiệu quả tương tác của các hợp chất này trên lipid tổng số và nồng độ triglyceride trong gan, cũng như nồng độ cholesterol trong cơ.

Để giảm hàm lượng cholesterol đắt tiền trong khẩu phần thức ăn cho tôm, bằng cách bổ sung lecithin đậu nành mà không làm ảnh hưởng đến hiệu suất tôm nuôi.

Bổ sung phospholipid và PC tinh trong khẩu phần thức ăn cho thấy tác dụng khác nhau, không chỉ về tốc độ tăng trưởng tôm, mà còn về hàm lượng lipid và một phần trong các mô tôm.

Khẩu phần ăn bổ sung phospholipid dẫn đến lipid tổng số cao trong gan và lipid tổng số thấp trong cơ của tôm hơn khẩu phần ăn mà không bổ sung phospholipid.

Ngược lại, tăng PC tinh trong khẩu phần ăn lại giảm lipid tổng số, hàm lượng axit béo tự do, và phospholipid khác trong gan, nhưng không ảnh hưởng đến hàm lượng lipid tổng trong cơ tôm.

Kết luận

Nghiên cứu của chúng tôi kết luận rằng, việc bổ sung các phospholipid và cholesterol trong khẩu phần ăn là cần thiết cho tôm giống L.vannamei.

Có ảnh hưởng tương tác giữa phospholipid và cholesterol trên hiệu suất tôm.

Nhu cầu cholesterol có thể được giảm xuống khi tăng mức phospholipid trong khẩu phần ăn. tag: phần mềm phối trộn phân bón

Một sự kết hợp của 0,05% cholesterol và 5% phospholipid đã được đề nghị cho nuôi tôm L.vannamei thâm canh.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nhu-cau-lipid-cua-tom-the-chan-trang-32525.html

Để nuôi tôm thẻ chân trắng thành công không phải nhờ may rủi

TTCT có khả năng nuôi ở mật độ cao, năng suất và hiệu quả.

Để nuôi tôm thẻ chân trắng thành công không phải nhờ may rủi

Tuy nhiên, nghề nuôi tôm đặc biệt rủi ro do thiên tai và dịch bệnh, ngoài việc lựa chọn số vụ và tuân thủ lịch thời vụ, người nuôi nhất thiết phải thực hiện nghiêm ngặt mọi khâu kỹ thuật. tag: phần mềm nông nghiệp

Theo ý kiến của nhiều chuyên gia trong ngành, TTCT dù là đối tượng nuôi mới và có nhiều đặc tính được cho là ưu việt như thời gian nuôi ngắn, sức sống cao, khả năng kháng bệnh tốt… tuy nhiên, người nuôi không được chủ quan.

Bởi như thời gian vừa qua, nhiều người nuôi tôm chủ quan trong việc áp dụng kỹ thuật, nuôi mật độ quá dày (trên 100 con/m2) dẫn đến tôm chậm lớn, tiêu tốn thức ăn, tỷ lệ sống thấp dẫn đến thất bại.

Cùng đó, khi chọn mua giống cần tìm đến những cơ sở sản xuất kinh doanh có uy tín, tránh tôm giống trôi nổi không rõ nguồn gốc, dễ khiến nuôi thất bại.

Cùng nữa, không nên thả nuôi tôm ồ ạt vào cùng một thời điểm, nhằm tránh tạo áp lực cho nguồn cung con giống dễ đẩy giá tôm giống lên quá cao…

Đồng thời, không nên lạm dụng và quá kỳ vọng vào hiệu quả tức thì của một số loại hóa chất hoặc thuốc xử lý môi trường, phòng, trị bệnh nào đó trong quá trình nuôi, mà phải kết hợp với việc giải độc, cân bằng các chỉ tiêu môi trường như pH, ôxy hòa tan… để hạn chế việc lây lan và tái phát dịch bệnh.

Đặc biệt, trong quá trình nuôi cần sử dụng định kỳ các chế phẩm sinh học để quản lý môi trường tốt và ổn định hơn, sản phẩm cuối cùng đảm bảo sạch.

Bên cạnh đó, người nuôi cũng nên chú ý đến mật độ thả, phải đảm bảo phù hợp với mức độ đầu tư cơ sở vật chất, khả năng chăm sóc và kinh nghiệm. tag: phần mềm phối trộn thức ăn

Bài học tại Thái Lan cho thấy, qua nhiều năm nuôi tôm ở mật độ cao đã khiến nền đáy bị chai, nghèo dinh dưỡng, tảo không phát triển, môi trường ao nuôi bị ô nhiễm nghiêm trọng dẫn đến dịch bệnh hoành hành, gây thiệt hại lớn cho ngành tôm.

Để khắc phục, người nuôi tôm nước này đã phải áp dụng giải pháp tạm ngừng nuôi một thời gian nhất định, đồng thời, giảm mật độ thả nuôi.

Theo kinh nghiệm của ông Vũ Văn Đức, người nuôi TTCT từ năm 2006 ở Nghệ An: Nên thả giống ở mật độ dưới 80 con/m2, sau 2 tháng nuôi, khi tôm đạt cỡ thương phẩm (dù còn nhỏ) tiến hành thu tỉa, số còn lại tiếp tục nuôi kết hợp thu tỉa dần để giảm mật độ, có thể kéo dài thời gian nuôi tới 4 tháng, cỡ tôm cuối vụ đạt dưới 40 con/kg, giá bán sẽ cao hơn nhiều.

Hơn nữa, cách làm này rất hiệu quả đối với những hộ không có khả năng đầu tư lớn.

Ngoài ra, cần áp dụng biện pháp phòng bệnh tổng hợp ngay từ khâu lựa chọn con giống, cải tạo ao nuôi đến quá trình chăm sóc… một cách nghiêm ngặt mới giảm thiểu được rủi ro dịch bệnh.

Bởi trong nuôi tôm, việc phòng bệnh đặc biệt quan trọng, hơn nữa, nếu tôm đã mắc bệnh thì có chữa trị được tôm cũng chậm lớn, dẫn đến hiệu quả nuôi thấp, thậm chí thua lỗ, đồng thời, tránh một số bệnh nguy hiểm chưa có thuốc đặc trị làm chết tôm hàng loạt.

Và quan trọng là phải có sự liên kết chặt chẽ với cộng đồng để nâng cao ý thức chung, tránh tình trạng “đèn nhà ai nhà ấy rạng”. tag: phần mềm phối trộn phân bón

Theo ông Nguyễn Văn Khởi, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Sóc Trăng, nuôi TTCT chắc chắn sẽ gây ra ô nhiễm môi trường do nuôi dày vụ, mật độ cao, sử dụng lượng thức ăn lớn… Mặt khác, phát triển TTCT trên diện rộng sẽ dẫn đến khó khăn về nguồn giống chất lượng, quản lý môi trường nuôi, đầu ra sản phẩm…

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/de-nuoi-tom-the-chan-trang-thanh-cong-khong-phai-nho-may-rui-32529.html

Nuôi tôm tăng trưởng nhanh và lớn hơn nhờ ăn chất thải từ nhím biển

Nhờ việc sử dụng nhím biển và tôm như loài làm mẫu, các nhà khoa học UAB khám phá ra rằng loài này có thể nuôi loài khác từ chất thải của mình mà không cần sử dụng các loại thực phẩm truyền thống. tag: phần mềm nông nghiệp

Tiến sĩ Steve Watts, nổi tiếng với các món ăn từ nhím biển do chính ông tự chế biến đã khiến ông được mọi người biết đến trên kênh du lịch về thức ăn lạ ở Mỹ, chương trình này được Andrew Zimmern phụ trách.

Nuôi tôm tăng trưởng nhanh và lớn hơn nhờ ăn chất thải từ nhím biển

Watts và nhóm của ông từ trường Cao đẳng Nghệ thuật và Khoa Sinh học Khoa học bắt đầu dự án này sau nhiều năm nghiên cứu truyền thống động vật dưới nước kết hợp với khoa học và y học tiên tiến.

Watts nói “trong những năm qua, chúng tôi nhận thấy rằng một số động vật chúng tôi nghiên cứu là loài thí nghiệm tuyệt vời đối với lĩnh vực y học,”

. “Hầu hết trong số chúng là những loài thí nghiệm y sinh hữu ích, và chúng tôi có thể nghiên cứu nhiều bệnh và vấn đề liên quan đến sức khỏe con người, do đó nghiên cứu của chúng tôi thực sự gồm hai phần.

Chúng tôi nghiên cứu những loài này đối với ngành nuôi trồng thủy sản và y sinh.

“Trong nghiên cứu trước đây của mình về nhím biển, Watts phát hiện ra rằng loài này có khả năng hỗ trợ loài khác, điều này thôi thúc mối quan tâm của ông để tìm hiểu khả năng đó.

“Trong một số trường hợp, chúng tôi nuôi tôm với nhím biển cùng với nhau và chúng tôi nhận thấy rằng tôm có xu hướng tụ tập nhím biển và tiêu thụ các viên chất thải từ nhím biển,” Watts nói.

“Giống như có tính hiệp trợ ở đây.”

Trong phòng thí nghiệm của Watts, các nhà nghiên cứu nuôi nhím biển và đặt chúng vào một hệ thống nuôi ghép, trong đó loài này nuôi loài khác.

Trong trường hợp này, tôm sống ở dưới nhím biển, nhím biển nuôi tôm qua việc thả viên chất thải để tôm ăn và phát triển mà không cần thức ăn truyền thống.

Theo nghiên cứu của Watts, các viên thải của nhím biển có đầy đủ các chất dinh dưỡng và vi khuẩn lành mạnh giúp tôm tăng trưởng nhanh và lớn hơn khi cho tôm ăn thức ăn riêng. tag: phần mềm phối trộn thức ăn

Phát hiện này có tiềm năng mang lại tác động tích cực trong nhiều lĩnh vực.

“Về cơ bản, đó là một bước đột phá trong khoa học nuôi ghép; nhưng những ảnh hưởng tích cực này cũng có thể được nhìn thấy trong các ngành công nghiệp nuôi thủy sản và người mua chúng cho các nhà hàng, “Watts nói.

“Chi phí tiết kiệm được có thể rất đáng kể từ việc giảm bớt hoặc loại bỏ nhu cầu thực phẩm truyền thống.

“Tôm nuôi là một phần quan trọng trong ngành nuôi trồng thủy sản và công nghiệp nhà hàng. Trên thế giới, tôm được nuôi trong ao hơn là ở đại dương vì lợi ích ẩm thực. Để nâng cao sản lượng tôm cho thị trường, nông dân thường phải mua thức ăn đắt tiền.

Hệ thống của Watts loại bỏ đi yếu tố chi phí. “Khi bạn có nhím biển thì bạn sẽ không cần thức ăn nuôi tôm,” Watts nói. “Những gì chúng tôi nhận thấy là tôm phát triển nhanh khi chỉ tiêu thụ viên nhím – chúng lớn nhanh và khỏe mạnh.

Trong nhiều trường hợp, tốc độ tăng trưởng của chúng vượt trội hơn những con tôm được cho ăn các thức ăn đắt tiền.

“Hơn nữa, các đầu bếp như Chris Hastings của Birmingham, đầu bếp và chủ sở hữu câu lạc bộ Hot and Hot Fish và Ovenbird mới mở nổi tiếng trên thế giới, có thể tự mình cung cấp thức ăn nhờ hệ thống mới này.

Watts và nhóm nghiên cứu của ông đã mang tôm của họ đến câu lạc bộ Hot and Hot Fish của Hasting cho một cuộc thử nghiệm hương vị

. Hastings cho biết “nếu bạn nuôi tôm trong ao chứ không phải trong một vòng khép kín có thực phẩm hữu cơ như ở môi trường sạch sẽ thì vị của nó gần giống loại tôm này- Hương vị, kết cấu, tất cả mọi thứ về tôm của bạn là đẳng cấp thế giới “.

“Và bạn có biết nó có ý nghĩa gì đối với tôi với tư cách là bếp trưởng không?

Điều này có nghĩa là tôi biết tôi có hy vọng và cơ hội để đạt được những gì tôi mơ ước trong nấu ăn, “Hastings phát biểu.

“Bạn không thể đạt được những ước mơ ấy với ít hơn một sản phẩm hoàn hảo.

“Watts và nhóm của ông thực hiện theo mong muốn của Hasting nhằm tạo ra một hệ thống môi trường bền vững vì sự nuôi trồng nhiều loài.

“Với số người trên thế giới ngày càng tăng và nhu cầu protein, nuôi trồng thủy sản sẽ là cơ chế duy nhất mà chúng ta có thể tăng cường sản xuất protein cá,” Watts nói.

“Đó là mọi thứ chúng ta có.””Nuôi trồng thủy sản mang lại cho chúng ta một phương pháp mới tạo ra protein mà chúng ta đã không sử dụng đầy đủ,” Karen Jensen, một sinh viên thạc sĩ trong phòng thí nghiệm Watts cho biết. tag: phần mềm phối trộn phân bón

“Những loài này sử dụng ít năng lượng hơn, chẳng hạn một con bò hoặc một con gà được nuôi đến lúc trưởng thành toàn diện sẽ cung cấp cho chúng ta nguồn dinh dưỡng tuyệt vời.”

Với rất nhiều lợi ích của hệ thống này trong đầu, Watts và nhóm của ông sẽ tiếp tục nghiên cứu về mối quan hệ nuôi ghép và những loài khác nhằm mang lại số lượng thủy sản nhiều hơn đến thị trường.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nuoi-tom-tang-truong-nhanh-va-lon-hon-nho-an-chat-thai-tu-nhim-bien-32588.html

Nuôi tôm tăng trưởng nhanh và lớn hơn nhờ ăn chất thải từ nhím biển

Nhờ việc sử dụng nhím biển và tôm như loài làm mẫu, các nhà khoa học UAB khám phá ra rằng loài này có thể nuôi loài khác từ chất thải của mình mà không cần sử dụng các loại thực phẩm truyền thống. tag: phần mềm nông nghiệp

Tiến sĩ Steve Watts, nổi tiếng với các món ăn từ nhím biển do chính ông tự chế biến đã khiến ông được mọi người biết đến trên kênh du lịch về thức ăn lạ ở Mỹ, chương trình này được Andrew Zimmern phụ trách.

Nuôi tôm tăng trưởng nhanh và lớn hơn nhờ ăn chất thải từ nhím biển

Watts và nhóm của ông từ trường Cao đẳng Nghệ thuật và Khoa Sinh học Khoa học bắt đầu dự án này sau nhiều năm nghiên cứu truyền thống động vật dưới nước kết hợp với khoa học và y học tiên tiến.

Watts nói “trong những năm qua, chúng tôi nhận thấy rằng một số động vật chúng tôi nghiên cứu là loài thí nghiệm tuyệt vời đối với lĩnh vực y học,”

. “Hầu hết trong số chúng là những loài thí nghiệm y sinh hữu ích, và chúng tôi có thể nghiên cứu nhiều bệnh và vấn đề liên quan đến sức khỏe con người, do đó nghiên cứu của chúng tôi thực sự gồm hai phần.

Chúng tôi nghiên cứu những loài này đối với ngành nuôi trồng thủy sản và y sinh.

“Trong nghiên cứu trước đây của mình về nhím biển, Watts phát hiện ra rằng loài này có khả năng hỗ trợ loài khác, điều này thôi thúc mối quan tâm của ông để tìm hiểu khả năng đó.

“Trong một số trường hợp, chúng tôi nuôi tôm với nhím biển cùng với nhau và chúng tôi nhận thấy rằng tôm có xu hướng tụ tập nhím biển và tiêu thụ các viên chất thải từ nhím biển,” Watts nói. tag: phần mềm phối trộn thức ăn

“Giống như có tính hiệp trợ ở đây.”

Trong phòng thí nghiệm của Watts, các nhà nghiên cứu nuôi nhím biển và đặt chúng vào một hệ thống nuôi ghép, trong đó loài này nuôi loài khác.

Trong trường hợp này, tôm sống ở dưới nhím biển, nhím biển nuôi tôm qua việc thả viên chất thải để tôm ăn và phát triển mà không cần thức ăn truyền thống.

Theo nghiên cứu của Watts, các viên thải của nhím biển có đầy đủ các chất dinh dưỡng và vi khuẩn lành mạnh giúp tôm tăng trưởng nhanh và lớn hơn khi cho tôm ăn thức ăn riêng.

Phát hiện này có tiềm năng mang lại tác động tích cực trong nhiều lĩnh vực.

“Về cơ bản, đó là một bước đột phá trong khoa học nuôi ghép; nhưng những ảnh hưởng tích cực này cũng có thể được nhìn thấy trong các ngành công nghiệp nuôi thủy sản và người mua chúng cho các nhà hàng, “Watts nói.

“Chi phí tiết kiệm được có thể rất đáng kể từ việc giảm bớt hoặc loại bỏ nhu cầu thực phẩm truyền thống.

“Tôm nuôi là một phần quan trọng trong ngành nuôi trồng thủy sản và công nghiệp nhà hàng. Trên thế giới, tôm được nuôi trong ao hơn là ở đại dương vì lợi ích ẩm thực. Để nâng cao sản lượng tôm cho thị trường, nông dân thường phải mua thức ăn đắt tiền.

Hệ thống của Watts loại bỏ đi yếu tố chi phí. “Khi bạn có nhím biển thì bạn sẽ không cần thức ăn nuôi tôm,” Watts nói. “Những gì chúng tôi nhận thấy là tôm phát triển nhanh khi chỉ tiêu thụ viên nhím – chúng lớn nhanh và khỏe mạnh.

Trong nhiều trường hợp, tốc độ tăng trưởng của chúng vượt trội hơn những con tôm được cho ăn các thức ăn đắt tiền.

“Hơn nữa, các đầu bếp như Chris Hastings của Birmingham, đầu bếp và chủ sở hữu câu lạc bộ Hot and Hot Fish và Ovenbird mới mở nổi tiếng trên thế giới, có thể tự mình cung cấp thức ăn nhờ hệ thống mới này.

Watts và nhóm nghiên cứu của ông đã mang tôm của họ đến câu lạc bộ Hot and Hot Fish của Hasting cho một cuộc thử nghiệm hương vị

. Hastings cho biết “nếu bạn nuôi tôm trong ao chứ không phải trong một vòng khép kín có thực phẩm hữu cơ như ở môi trường sạch sẽ thì vị của nó gần giống loại tôm này- Hương vị, kết cấu, tất cả mọi thứ về tôm của bạn là đẳng cấp thế giới “.

“Và bạn có biết nó có ý nghĩa gì đối với tôi với tư cách là bếp trưởng không?

Điều này có nghĩa là tôi biết tôi có hy vọng và cơ hội để đạt được những gì tôi mơ ước trong nấu ăn, “Hastings phát biểu.

“Bạn không thể đạt được những ước mơ ấy với ít hơn một sản phẩm hoàn hảo.

“Watts và nhóm của ông thực hiện theo mong muốn của Hasting nhằm tạo ra một hệ thống môi trường bền vững vì sự nuôi trồng nhiều loài.

“Với số người trên thế giới ngày càng tăng và nhu cầu protein, nuôi trồng thủy sản sẽ là cơ chế duy nhất mà chúng ta có thể tăng cường sản xuất protein cá,” Watts nói.

“Đó là mọi thứ chúng ta có.””Nuôi trồng thủy sản mang lại cho chúng ta một phương pháp mới tạo ra protein mà chúng ta đã không sử dụng đầy đủ,” Karen Jensen, một sinh viên thạc sĩ trong phòng thí nghiệm Watts cho biết. tag: phần mềm phối trộn phân bón

“Những loài này sử dụng ít năng lượng hơn, chẳng hạn một con bò hoặc một con gà được nuôi đến lúc trưởng thành toàn diện sẽ cung cấp cho chúng ta nguồn dinh dưỡng tuyệt vời.”

Với rất nhiều lợi ích của hệ thống này trong đầu, Watts và nhóm của ông sẽ tiếp tục nghiên cứu về mối quan hệ nuôi ghép và những loài khác nhằm mang lại số lượng thủy sản nhiều hơn đến thị trường.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nuoi-tom-tang-truong-nhanh-va-lon-hon-nho-an-chat-thai-tu-nhim-bien-32588.html

Luân canh muối tôm hiểu để nuôi mới đạt hiệu quả

Được mùa muối

Ông Cao Xuân Linh – Chủ tịch UBND xã Tân Thuận cho biết: Từ năm 2009, mô hình thâm canh muối – tôm bắt đầu được HTX Thanh Phong triển khai thí điểm. tag: phần mềm nông nghiệp

Theo đó dựa vào thời tiết tại địa phương, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là làm vụ muối, còn từ tháng 5 đến tháng 10 thì nuôi tôm trên cùng diện tích.

Luân canh muối tôm hiểu để nuôi mới đạt hiệu quả

Vụ muối vừa qua, năng suất trung bình đạt 15 tấn/ha.

Diện tích muối sản xuất trong 9 tháng là 90 ha, đạt 100% kế hoạch.

Sản lượng khai thác 10.200 tấn, đạt 108%, tăng so với cùng kỳ 240%.

Giá muối trải bạt thu mua tại xã trung bình ở mức 1.200 đồng/kg, còn muối truyền thống giá 1.000 đồng/kg.

Giá muối năm nay tăng cao so với cùng kỳ nên phần nào tạo thu nhập ổn định cho diêm dân.

Với 1ha đất sản xuất muối theo phương pháp trải bạt đạt năng suất bình quân 15 tấn.

Sau khi trừ các chi phí… nhiều hộ thu về hơn 100 triệu đồng.

Sản xuất muối trên sân trải bạt có ưu điểm là nước ít bị rò rỉ nên cho năng suất tối đa.

Nếu làm muối trên sân đất, khi xảy ra cơn mưa trái mùa hay làm lại vụ mới phải mất từ 2 – 3 ngày mới cải tạo xong đồng muối.

Còn làm muối trên sân trải bạt thì chỉ cần sáng cào muối, chiều là có thể đưa nước vào để làm vụ tiếp. tag: phần mềm phối trộn thức ăn

Điều này giảm mức đầu tư về thuê lao động, rút ngắn thời gian thu hoạch.

Tôm thất thu đến 40%

Sau khi vụ muối kết thúc, người dân tiến hành nuôi tôm ngay trên những ruộng muối.

Nhiều năm qua, nghề nuôi tôm trên ruộng muối đang là thế mạnh, góp phần quan trọng nâng cao thu nhập cho diêm dân xã Tân Thuận.

Thời điểm này, bà con đang tiến hành dọn vệ sinh ao hồ để chuẩn bị xuống giống tôm vụ 3.

Tuy nhiên trước đó, sau khi vụ 2 kết thúc toàn xã Tân Thuận có hơn 40% tôm nuôi bị bệnh chết trong tổng số 75ha.

Nguyên nhân được xác định do thời tiết diễn biến phức tạp làm ảnh hưởng đến môi trường nuôi.

Đồng thời mật độ nuôi cao 150 – 200 con/m2 làm cho môi trường nuôi luôn bị ô nhiễm tạo nên tác nhân cho dịch bệnh bùng phát.

Bên cạnh đó, mùa mưa cũng là mùa tôm bị thiệt hại do điều kiện thời tiết không ổn định.

Chính vì vậy, để mô hình này mang lại hiệu quả, người nuôi cần có những kiến thức nhất định.

Theo kinh nghiệm của người nuôi, để tôm đạt năng suất, ít xảy ra dịch bệnh thì khi thu hoạch xong vụ muối, phải cải tạo ngay đáy ao, làm giảm bớt độ mặn thì tôm mới sinh trưởng, phát triển tốt.

Bên cạnh đó, ao nuôi phải bảo đảm mực nước từ 0,7m – 1m.

Mật độ tôm cần bảo đảm mức 15 con/m2.

Ngoài ra, người nuôi cần xét nghiệm và kiểm dịch đầy đủ con giống trước khi thả nuôi.

Khi tôm đến tuổi thu hoạch hoặc gặp sự cố dịch bệnh cần làm tốt việc bảo vệ môi trường cho nguồn nước chung, không xả nước bẩn nhiễm bệnh ra trực tiếp ngoài môi trường. tag: phần mềm phối trộn phân bón

Những ao nuôi tôm sau mỗi vụ nuôi, nhất là ao nuôi đã xảy ra tình trạng tôm chết cần phải cho ao nghỉ và tiến hành cải tạo ao cho vụ mới là rất quan trọng.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/luan-canh-muoi-tom-hieu-de-nuoi-moi-dat-hieu-qua-32592.html