Monthly Archives: August 2017

Quản lý trang trai cá rô phi ở Brazil

Tóm tắt: Phần lớn việc mở rộng nuôi trồng cá rô phi của Brazil diễn ra trong các lồng nổi với hệ thống khung vững chắc và lưới được làm từ thép bọc nhựa hoặc polypropylene. Mặc dù loại lồng lớn hơn cũng được sử dụng, hầu hết các lồng tại trang trại có sức chứa nhỏ khoảng 20 m3 phù hợp chăn nuôi mật độ cao và thu hoạch liên tục mà không làm tăng áp lực cho cá. Ao làm bằng đất có thể được sử dụng cho các trang trại ươm cá bột, nhưng các ngăn trong lồng là phổ biến hơn. Phân loại kích thước là một điểm quan trọng trong quản lý.

Quản lý trang trai cá rô phi ở Brazil

Cá rô phi đã được đưa đến Brazil lần đầu tiên vào năm 1953, nhưng chỉ trong một thập kỷ qua đã được phát triển với quy mô thương mại. Từ năm 1999, ngành công nghiệp nuôi cá rô phi đã mở rộng với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 18%. Trong năm 2009, Bộ Thủy sản và Nuôi trồng thủy sản Brazil báo cáo thu hoạch cá rô phi là 133.000 tấn.

Trong những năm qua, nông dân Brazil đã sử dụng một số chủng loại cá rô phi khác nhau, bắt đầu với loại cá rô phi đỏ vùng Florida và gần đây nhất là cá rô phi đực biến đổi gen. Được nhập về từ Thailand từ năm 1995, cá rô phi sông Nin, cá rô phi Oreochromis niloticus và Chitralada đã trở thành những chủng loại chính trong các trang trại tại đây.

Phần lớn các vùng chăn nuôi cá rô phi diễn ra trong lồng nổi, gần nhiều khu vực ven biển của Brazil. tag: máy quạt nước

Đặc điểm của lồng

Đất nước Brazil chứa khoảng 10 triệu ha nước ngọt trong các đập, sông, hồ, hồ chứa nhân tạo. Lồng nổi đã trở thành hệ thống phổ biến nhất để nuôi cá rô phi ở Brazil trong khu vực với chất lượng nước, tỷ lệ xả và độ sâu của nước thích hợp.

Lồng cá rô phi được xây dựng đơn giản, ít tốn kém (US$400 cho một lồng 6m3) và dễ quản lý. Lồng thường được xây dựng với lưới cố định hay linh hoạt làm từ nhựa bọc thép mạ kẽm, thép không gỉ hoặc sợi tổng hợp như polypropylene. Lưới thép phổ biến rộng rãi hơn vì chúng chống lại loài cá săn mồi như cá piranha có trong một số khu vực nội địa trong nước tốt hơn. Khung lồng được làm từ thép không gỉ hoặc bằng thép mạ kẽm. Khung polyethylene với sức chứa cao tuy ít phổ biến và tốn kém hơn nhưng lại lại chắc chắn và bền hơn, đã trở thành sự lựa chọn hàng đầu của các trang trại sử dụng lồng khối lượng trung bình.

Đối với các địa điểm gần bờ, lồng cố định được bố trí cách nhau 2 đến 4m theo nhóm và được neo bằng các cọc cố định ven bờ. Hoặc được gắn với vật nặng bằng bê tông nhờ dây thừng và xích chìm dưới nước như hệ thống neo. Nhằm tạo thuận lợi cho việc quản lý hàng ngày, các lối đi giữa các lồng được tạo ra từ các thanh gỗ và các thùng nhựa rỗng.

Hầu hết các lồng nuôi cá rô phi được sử dụng có khối lượng nhỏ 4-20 m3 dưới dạng hình tròn hoặc hình vuông với chiều cao không lớn hơn 2 m. Lồng có thể hoạt động 1 cách an toàn với mật độ cao (từ 120 kg cá rô phi / m3) nhờ vào việc trao đổi nước nhanh chóng.

Thị trường tiêu thụ cá rô phi của Brazil chủ yếu là trong nước và bán lẻ nên lồng khối lượng nhỏ cho phép mỗi lần thu hoạch số lượng ít mà không gây áp lực lên mật độ cá trong ao. Nếu khối lượng lồng lớn hơn 10m3 và khối lượng cá thu hoạch mỗi tháng vượt 10 tấn, trang trại cá đó cần có nguồn tiền mặt và nguồn vốn vừa phải với quy trình sản xuất và doanh số bán hàng phù hợp.

Ghi chú: lối đi giúp tiếp cận các lồng cá dễ dàng hơn và thuận tiện hơn trong việc cho ăn và chăm sóc cá.

Trang trại nuôi cá rô phi hoạt động với lồng có khối lượng vượt quá 300 m3 đôi khi được tích hợp từ khâu sản xuất cá giống đến phân phối cá theo mô hình chiều dọc. Chúng hoạt động cùng với nhà máy chế biến và theo các hợp đồng đòi hỏi phải thu hoạch lượng lớn cá rô phi tại một thời điểm.

Trong lồng khối lượng lớn hơn, mật độ thả giống cuối cùng được giảm còn 60 kg cá / m3. Bất lợi của loại lồng này là tính linh hoạt và cơ động kém, nhưng mặt khác, có thể tiết kiệm đáng kể lực lượng lao động.

Ươm cá

Cá rô phi được chuyển đổi giới tính thường được bán cho các trang trại nuôi cá thương phẩm để làm cá giống với cân nặng tươi là 0.2 – 0.5g. 1 ngàn con cá bột có giá từ 30 – 45 USD tùy vào chất lượng, địa điểm và nguồn cung. Khi có nguồn hàng với khoảng cách gần, các chủ trại nuôi cá thường thích mua cá có trọng lượng từ 10 – 30g, mặc dù chúng có giá lên đến 80USD cho 1 ngàn con. Ở giai đoạn này, tỷ lệ tử vong được giảm đáng kể và chu kỳ nuôi thương phẩm rút ngắn.

Ao đất có thể được sử dụng để ươm cá Chitralada trước khi thả giống trong lồng. Tuy nhiên, lồng được trang bị với lưới 5mm linh hoạt thường phổ biến hơn vì chúng tạo điều kiện chăm sóc và chuyển giao qua các lồng cá thương phẩm dễ dàng hơn. Trong lồng, phải mất 5-8 tuần để phát triển cá bột nặng 0,5 g thành cá con trọng lượng 30 g phụ thuộc vào mật độ thả giống, thức ăn và chất lượng nước.

Phân loại kích thước

Mức độ tăng trưởng cá rô phi có thể rất khác nhau trong cùng một đợt thả, đặc biệt là khi cá được thả với mật độ cao. Nguyên nhân của hiện tượng này 1 phần là do do sự khác biệt di truyền và 1 phần là do sự tương tác cạnh tranh giữa cá trong ao. Có 1 số con cá ăn nhiều hơn hẳn những con còn lại và do đó phát triển nhanh hơn. Vì thế, việc phân loại kích thước chính là 1 nhân tố quan trọng trong việc quản lý và chăm sóc cá rô phi trong lồng. tag: may quat nuoc

Khi cá rô phi được chuyển tới các lồng khác nhau, cá có điều kiện được nuôi thả trong 1 môi trường sạch hơn với kích thước mắt lưới lớn thuận tiện cho việc trao đổi nước trong lồng hơn. Từ kích thước mắt lưới 5 mm, cá 10g thường được chuyển đến lồng với kích thước mắt lưới lên tới 15 mm. Sau đó, cá rô phi trọng lượng 30 – 200g được thả trong lưới từ 15 – 25 mm. Lưới dùng cho cá lớn hơn 200 g có mắt lưới là 25 mm hoặc lớn hơn.

Tần số phân loại phụ thuộc vào một số điều kiện, bao gồm kích thước cá mong muốn khi thu hoạch, số lượng lồng hiện có, kích thước khác nhau lúc thả con giống, mức độ căng thẳng thường có và tình trạng sức khỏe của đàn cá lúc thả. Nhiều nông dân nhắm mục tiêu nuôi cá rô phi đạt trọng lượng trên 900 g để đạt được giá cao. Đối với trọng lượng cá này, việc phân loại có thể được thực hiện 2-3 lần trong một chu kỳ sản xuất (Hình 1).

Trong mùa mưa, khi cá trở nên nhạy cảm hơn với dịch bệnh, mật độ thả cá rô phi cũng như tần số phân loại giảm lại. Khi việc phân loại kích thước được thông qua, trọng lượng cuối cùng của cơ thể cá ở thời điểm thu hoạch có thể giảm từ 40% đến 15% so với lúc đầu. Cá rô phi thường được phân loại thành bốn loại kích thước, với các con cá nhỏ nhất, người nuôi cần loại bỏ chúng càng sớm càng tốt vì mức độ tăng trưởng chậm của chúng là không thể phục hồi trong chu kỳ sản xuất. Thường thì công việc này được thực hiện thủ công, nhưng đối với các trang trại quy mô lớn, quá trình này có thể được cơ khí hóa.

Hình 1. Ví dụ về một chiến lược phân loại kích thước cho cá rô phi trong một chu kỳ sản xuất bình thường.

 

Trọng lượng cá Lượng đạm Kích cỡ Tỷ lệ cho ăn*
< 0.1-5.0 g 40-45% < 1 mm 10.0-18.0%
5.0-30.0 g 40-45% 1-2 mm 6.0-10.0%
30.0-100.0 g 35-40% 2-4 mm 3.0-6.0%
100.0-200.0 g 30-35% 4-6 mm 2.5-3.0%
200.0-500.0 g 30-32% 6-8 mm 2.0-2.5%
500.0 g-1.2 kg 28-32% 6-8 mm 1.5-2.0%

Bảng 1. Bảng cho ăn của cá rô phi khi nuôi lồng sâu.

Chế độ cho ăn

Cá rô phi nuôi trong lồng ở Brazil chỉ được chăm sóc theo chế độ ăn ép cân. Kích thước thức ăn, hàm lượng protein có trong thức ăn và tỷ lệ cho ăn có thể khác nhau tùy theo nhà sản xuất. Thức ăn cho cá thường có hàm lượng protein cao trong giai đoạn đầu và giảm dần khi kích thước cá lớn hơn (bảng 1). Nuôi cá thương phẩm và cho ăn hoàn thiện thì hàm lượng protein thường chiếm tới 32% và chiếm 80% chi phí cho ăn ở 1 trang trại nuôi cá trong lồng.

Để xác định được khẩu phần ăn tối đa phù hợp với kích thước, người nuôi thường tuân theo tỷ lệ từ các bảng thức ăn thương mại. Tuy nhiên, khẩu phần ăn thường được điều chỉnh hằng ngày tùy theo lượng thức ăn cá tiêu thụ. Trong các lồng có khối lượng nhỏ, khẩu phần ăn không bao giờ được rải toàn bộ. Ban đầu, cá có thể được cho ăn 1 nửa khẩu phần tính toán. Phần còn lại sẽ được cung cấp nếu khẩu phần đầu tiên được tiêu thụ hết trong vòng 30 phút sau khi phân phối. Sau khoảng thời gian này, thức ăn thừa có thể được bão hòa với nước, và thức ăn dạng viên nặng hơn sẽ thoát khỏi khu vực cho ăn hạn chế, dẫn đến tổn thất nguồn thức ăn. Lồng được trang bị với lối đi cho phép việc kiểm tra về tiêu thụ thức ăn được chi tiết hơn. Các lối đi tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý và lưu trữ thức ăn, hỗ trợ việc cho ăn thường xuyên tới 8 lần/ngày  khi trong giai đoạn nuôi thương phẩm, nhiều gấp 3 lần so với việc cho ăn bằng thuyền. Chúng còn cho phép thu gom mảnh vụn thức ăn và chùi rửa cửa thả thức ăn và tấm lưới.

Triển vọng

Lồng nuôi cá rô phi sẽ tiếp tục được phát triển nhanh chóng trong những năm tới ở Brazil để giảm thâm hụt ngày càng tăng của các sản phẩm thủy sản trong nước. Cá rô phi tươi thường được bán với trọng lượng 700-900 g tại chợ. Giá tại trang trại khoảng US $ 2,00-2,80 / kg.

Ngày nay, phần lớn sản phẩm cá rô phi của Brazil được tiêu thụ ở nông thôn nhưng cũng được tìm thấy trong các chuỗi siêu thị lớn, nhà hàng, chợ cá trên cả nước. Khi khai thác thủy sản trong tự nhiên tiếp tục giảm ở Brazil và người dân ở các thành phố nhận ra được giá trị của cá rô phi, nhu cầu tăng cao sẽ thúc đẩy nhiều doanh nhân đầu tư vào việc nuôi cá rô phi. Trong viễn cảnh mới mẻ này, lồng với khối lượng trung bình và vận hành cơ khí hóa trong trang trại nuôi sẽ giúp hoạt động sản xuất có hiệu quả hơn trên quy mô lớn hơn.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/quan-ly-trang-trai-ca-ro-phi-o-brazil-58e20514e49519e65c8b456b.html

Hướng dẫn nuôi cá rô phi

Làm thế nào để gây giống cá rô phi?

Phần lớn người nuôi cá rô phi chỉ định ra một bể nuôi chứa 5 cá cái và 1 cá đực. Tỉ lệ này cho phép năng suất tôi đa trong việc ghép cặp gây giống.

Hướng dẫn nuôi cá rô phi

Khi nào cá rô phi đến tuổi sinh trưởng?

Cá rô phi sẽ đến tuổi sinh trưởng khi đạt được độ dài khoảng 3- 4 inches. Giữ chúng nằm yên để bạn đo đạc lại là một vấn đề khác.

Làm thế nào mà bạn biết được giới tính của cá rô phi?

Khi cá đạt đến chiều dài 4-5 inches, bạn có thể xác định giới tính chúng 1 cách rõ ràng. Sự khác nhau dễ thấy nhất là cá đực có dương vật “V” nằm giữa hậu môn và đuôi. Cá cái sẽ có hai lỗ kích thước khác nhau.

Điều kiện cụ thể được yêu cầu khi gây giống cho cá rô phi? 

Riêng tư, nước sạch và tỷ lệ cụ thể trong việc gây giống giữa con đực và con cái. Tốt nhất là 5 cá cái và 1 cá đực.

Làm cách nào để chăm sóc cá rô phi giống?

Quan trọng nhất là có một bể chứa riêng biệt dành cho cá con. Những con cá rô phi lớn hơn sẽ ăn hết cá con nếu chúng ở chung một bể. Ngay sau khi cá con có thể tự ăn được, chúng cần phải được tách ra khỏi cá mẹ.

Cho cá rô phi ăn gì?

Cá rô phi có thể ăn được một loạt những thực vật và thức ăn đa dạng. Phần lớn các hệ thống nuôi trồng thủy sản thủy canh cho cá ăn những thức ăn dạng viên cơ bản với rất nhiều protein.

Vị cá rô phi như thế nào?

Cá rô phi nhanh chóng trở thành một loại cá vượt trội nhất được tiêu tụ bởi con người. Một trong những lý do chính đó là nó không nặng mùi cá, mang đến một hương vị hoàn hảo được dùng rộng rãi trong nhiều món ăn và gia vị.

Tại sao cá rô phi lại là lựa chọn tốt cho việc nuôi trồng thủy sản bền vững?

Cá rô phi được biết là một trong những loại cá dễ sống. Từ những người mới bắt đầu cho đến những tổ chức lớn, loài cá thích hợp với sự đa dạng nhiệt độ, pH, kiểm soát nước v..v.., làm cho cá rô phi trở thành một loài cá hoàn hảo.

Từ những nông dân mới bắt đầu nuôi trồng thủy sản, cá rô phi có thể ngay lập tức trở thành một giải pháp tốt nhất để tạo ra một hệ thống đa dạng sinh học hoàn hảo mà chỉ cần đầu tư ban đâu. Với cá rô phi-“ thỏ “ của nước, chúng rất dễ được nhân giống và rất dễ giữ. tag: máy quạt nước

Cá rô phi bắt nguồn từ đâu?

Tilapia have a very wide and diverse history.  Originally from the warm waters of Africa, tilapia have been discovered as being farmed over 4,000 years ago by the Egyptians along the Nile.  The Greeks also were tilapia lovers, and Aristole is thought to have named them “Tilapia niloticus” or “Fish of the Nile.”

Cá rô phi có một lịch sử rất rộng và đa dạng. Nguyên từ vùng nước ấm của Châu Phi, cá rô phi phát hiện là được nuôi hơn 4000 năm trước bởi người Ai Cập dọc theo sông Nile. Người Hy Lạp cũng rất yêu thích cá rô phi, và Aristole được cho là người đã đặt tên chúng “Tilapia niloticus” (cá rô phi) hay “ cá của sông Nile”

Cá rô phi cũng là một phần của truyền thống đạo Thiên Chúa như là một loài cá được đánh bắt bởi các tông đồ Peter trong Matthew 17.27.

Cá rô phi có là một lựa chọn cho chế độ ăn kiêng lành mạnh?

Một phần phi lê cá rô phi (100g) có thể cung cấp lên đến 18g protein và 90gr Omega-3, là một đòi hỏi cần thiết cho chế độ ăn kiêng lành mạnh.

Chỉ số Nước Hóa Học trong việc nuôi cá rô phi?

Nhiệt độ: 80-85F, Oxy: 5-6ppm, PH: 7-7.5, Ammonia gốc tự do: 0,2ppm sẽ giết chết cá, 1ppm sẽ ngăn cản sự phát triển. Nitrat: 0.3mg/l hoặc ít hơn, Nitrate: 200-300PPM, CO2: 20mg/l hoặc ít hơn, Clo: 0.

Nên cho cá rô phi ăn bao nhiêu lần?

Vì sự phát triển nhanh chóng của cá rô phi, chúng đòi hỏi một chế độ cho ăn phù hợp và ổn định. Thông thường, một lịch trình 4 lần một ngày là tốt nhất. Cá con cần phải cho ăn 8 lần 1 ngày cho đến khi chúng vượt quá 1 inches

Vui lòng đừng cho ăn quá nhiều mỗi lần cho ăn. Bất kì thức ăn nào tồn đọng trong hồ sau khi cá ăn xong có thể làm giảm chất lượng nước trong hồ chứa ngay lập tức và cuối cùng sẽ giết chết cá.

Những loại thức ăn bổ sung nào mà tôi có thể cho cá rô phi ăn?

Rất nhiều nông dân nuôi cá rô phi đã thử qua vô số số loại thức ăn khác nhau. Một thức ăn nổi tiếng như Duckweed, Red Worms, Suspended algea, Peas, Alfalfa Pellets, Black Soldier fly larva, Insects, Lettuce, Greens, Brine Shrimp, Crickets (bèo tấm, sâu đỏ, tảo Suspended, đậu, viên Alfalfa, ấu trùng nhện đen, côn trùng, xà lách, rau xanh, tôm nước mặn, dế )và thậm chí là cỏ.

Tuy nhiên, có một thực phẩm cơ sở dành cho cá phù hợp tối đa với sự phát triển tối đa và cũng làm cho hệ thống duy trì dễ dàng.

Nhiệt độ lý tưởng dành cho cá rô phi con là gì?

Cá rô phi con cần nhiệt độ giống như cá rô phi trưởng thành, nhưng nhất quán hơn. Hồ nước lý tưởng là cỡ từ 80- 83 độ F

Độ pH lý tưởng cho cá rô phi?

pH tốt nhất là từ 7-7.5pH

Bao nhiêu cá rô phi phù hợp với hồ của tôi?

Đây là một câu hỏi khó trả lời. Có rất nhiều vấn đề khác nhau phát sinh khi tăng số lượng cá trong bể. Lượng oxy thường là vấn đề nghiêm trọng nhất có thể xảy ra. Nhất định phải giữ cho hồ nước được cung cấp oxy liên tục.

Nó cũng có thể đóng 100 cá giống trong một bể chứa lớn, nhưng trong vòng một tuần, kích thước của chúng sẽ tăng lên gấp đôi, và dẫn đến việc tích trữ quá nhiều. Cách tốt nhất để giải quyết những giai đoạn phát triển khác nhau là xây dựng những hồ chứa khác nhau dành cho từng giai đoạn phát triển.

Cách dễ dàng nhất để tính toán tỉ lệ “nhiên liệu sinh khối” là lên kế hoạch về 1 pound cá trong 3 -7 gallons nước.

Một 250 gallon IBC tote với một giường nuôi có thể hỗ trợ 71-80 pounds cá. Nếu bạn nuôi cá rô phi từ 1.5- 2 pounds thì số lượng ca đạt mức cao nhất sẽ là 36-45 con. tag: may quat nuoc

Làm sao tôi có thể biết tôi đang nuôi những con cá tốt?

Một trong những vấn đề quan trọng nhất trong chất lượng của cá rô phi là “dòng giống”. Một số nông dân sẽ không duy trì phần trữ tinh khiết và gây giống phần trữ của họ trong một khoản thời gian dài. Điều này có thể làm giảm đáng kể chất lượng của cá và phá hủy tình trạng toàn vẹn của loài.

Đảm bảo rằng bạn đang mua lượng trữ cơ bản từ một nơi gây giống đang duy trì tình trạng toàn vẹn của loài.

Cá rô phi có ăn phân cá không?

Giống như những loài cá khác, cá rô phi là loại ăn tạp thấp nhất. Điều này có nghĩa là nó sẽ ăn thực vật, tảo và đôi khi là những con cá nhỏ hơn. Nếu bất kỳ loài cá nào buộc phải sống trong một môi trường dơ bẩn, chúng sẽ ăn chất thải. Tẩy rửa và thay nước liên tục là một điều cần thiết đến chất lượng cá.

Làm thế nào để gây dòng cá rô phi?

Gây dòng là một quá trình liên tục trong việc lựa chọn chỉ những con cá chất lượng nhất cho kho giống của bạn. Điều này có phép lai tạo những đặc điểm mong muốn.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/huong-dan-nuoi-ca-ro-phi-58e20657e49519c15e8b456b.html

Tiết kiệm nước, tái chế chất thải cải thiện kinh tế

Tóm tắt:

Hệ thông Biofloc cho phép chuyên sâu hơn trong việc sản xuất cá rô phi. Các loài cá thích nghi với điều kiện trong hệ thống biofloc và phát triển tốt bằng cách sử dụng bioflocs như một nguồn cung cấp thức ăn. Việc tái chế thức ăn và giảm thiểu việc thay nước là những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế trong việc sản xuất cá rô phi. Hiểu được hệ thống biofloc, giám sát và nhanh chóng đáp trả lại nhanh chóng đến sự phát triển tiểu cực là rất cần thiết trong việc chăn nuôi thành công.

Tiết kiệm nước, tái chế chất thải cải thiện kinh tế.

Sản xuất cá rô phi đã tăng lên một cách khủng khiếp trong vài thập kỉ qua. Khoảng 3 triệu tấn vào năm 2010, khối lượng sản xuất cá rô phi trên toàn thế giới chỉ đứng thứ hai sau cá chép trong tất cả loài cá. Xu hướng hiện nay cho thấy một sự tăng trưởng liên tục trong việc sản xuất và mở rộng sự thâm nhập của cá rô phi trong hoàng loạt thị trường, từ những nhà hàng đắt tiền tới những quán ăn địa phương trên toàn thế giới.

Mặc dù mức độ sản xuất cao hơn là cần thiết, nhưng việc tăng sản lượng thủy hải sản đang bị giới hạn trên toàn thế giới bởi sự thích hợp của đất và nước. cách khả thi nhất và phù hợp vơi môi trường nhất để tăng sản lượng thủy hải sản là bằng cách sử dụng hệ thống sản xuất thâm canh.

Công nghệ Biofloc

Một trong những hệ thống có phép tăng cường trong việc đầu tư hợp lý và chi phí hoạt động là công nghệ biofloc.

C dựa trên việc quản lý ao bằng cách giảm thiểu việc thay nước và phát triển tiếp theo của quần thể sinh vật dày đặc. Các vi sinh vật được quản lý thông qua sự điều chỉnh tỉ lệ carbon- nitơ (C: N) để kiểm soát nồng độ nitơ và chất vô cơ trong nước.

Vi khuẩn hình thành bioflocs đồng hóa tổng ni tơ ammoniac (TAN), sản xuất protein từ vi sinh vật và cho phép tái chế các protein trong thức ăn thừa. Công nghệ Biofloc được sử dụng rộng rãi trong việc sản xuất tôm.

Cá rô phi và Bioflocs. 

Cá rô phi phù hợp một cách lý tưởng trong công nghệ biofloc. Các bộ lọc thức ăn của động vật ăn cỏ thích ứng với bioflocs không tan trong nước, và sự mạnh mẽ ổn định trong sự tăng trưởng của cá và sinh sôi trong hệ thống dày đặc.

Một tính năng quan trong trong hệ thống sản xuất cá rô phi biofloc, đặc biệt so với hệ thống nuôi tôm chính là sinh khối rất cao. Theo kinh nghiệm của tác giả, sinh khối của cá rô phi có thể đạt đến 200- 300 tấn/ ha, so với sinh khối của tôm chỉ vào khoảng 20 triệu tấn/ ha trong ao được quản lý tốt. Điều khác biệt này chính là một tính năng quan trọng cho việc giảm thiểu sự thay nước. Tuy nhiên, mật độ cá cao, nên việc sản sinh ra chất thải cao.  tag: máy quạt nước

Kiểm soát TAN

Việc tạo ra TAN hàng ngày, nếu không được giải quyết và còn lại trong nước, nó sẽ dẫn đến lượng đủ cao để giết chết cá. Hai quá trình sinh học trung gian đóng vài trò trong hệ thống biofloc để kiểm soát nồng độ TAN.

Quá trình đầu tiên trong việc đồng hóa TAN được thực hiện bởi các vi khuẩn dị dưỡng vào protein của vi sinh vật. Trong các hệ thống với mức độ Carbon có sẵn cao hơn ni tơ (tỉ lệ C:N trên 15), vi khuẩn sử dụng carbon như một khối xây dựng cho vật liệu sản sinh tế bào mới. Tuy nhiên, khi các tế bào vi sinh vật được tạo ra từ protein, chúng cần ni tơ và làm mất ammoniac từ nước. Cả hai kinh nghiệm và lý thuyết chứng minh rằng khi C: N cao hơn 15, sự tập trung TA được giữ ở mức thấp.

Quá trình vi sinh vật thứ hai là quá trình nitrat hóa có thể chuyển đổi các độc chất ammonia và nitrite thành nitrate. Điều này quan trọng để lưu ý rằng cả hai quá trình có thể diễn ra chỉ khi các tập hợp vi sinh vật thích hợp hiện diện ở mọi mức độ nước. Các cộng đồng dị dưỡng phát triển khá nhanh sau sự tích tụ các chất hữu cơ trong nước. Cộng đồng nitrat phát triển chậm và mất khoảng 4 tuần để đạt đến khả năng,  trừ khi một nguồn chủng thích hợp được áp dụng.

Như được đề cập, đồng hóa ni tơ là một cơ chế công suất cao điều khiển nito và đặc biệt là mức TAN trong nước.  Protein sản sinh từ vi sinh vật đồng thời có thể phục vụ như một nguồn thức ăn chất lượng cao cho cá. Trong các hệ thống vi khuẩn biofloc, nơi mật độ vi khuẩn có thể đạt 1 tỉ tế bào/ mL, các vị khuẩn bám dính lại với nhau cùng với những sinh vật khác và phần tử hữu cơ để tạo thành bioflocs có kích thước từ 0.1 đến 1 vài milimet. Các hạt này dễ dàng thu hoạch và đồng hóa bởi cá rô phi.

Chất rắn không tan

Tổng chất rắn không tan (TSS) hay khối lượng biofloc nhanh chóng tích tụ trong ao khi sinh khối cá cao. Các cộng đồng vi khuẩn có ích và việc dự trữ thức ăn không nên được đưa ra một cách bất cẩn, nhưng việc nồng độ quá mức của TSS thêm vào để tiêu thụ oxy ở một mức độ cao có thể làm tắc nghẽn mang cá.

Thêm nữa, nếu nước không phải trộn lẫn hoặc sự tập trung TSS vượt quá khả năng pha trộn của hệ thống, các hạt rắn sẽ lắng xuống và có thể tích tụ trong lớp đất yếm khí hoặc túi. Những vị trí kỵ khí ở đáy hồ có thể dẫn đến sự sản sinh ra độc tố làm giảm các hợp chất, và dần dần cản trở nghiêm trọng cho sự phát triển của cá. Mức TSS có thể được kiểm soát bởi hệ thống thoát nước của bùn, hòa trộn nước hợp lý và thiết kế đáy ao tốt.

Protein trong Bioflocs

Lượng protein được lưu trữ trong bioflocs rất đáng kể. Nếu chỉ 50% TAN bài tiết ra bởi cá rô phi được đồng hóa và có sẵn như là một thức ăn cho cá, qui trình này có thể thêm một lượng lớn protein tương đương với 30% cho viên đạm trong một khẩu phần hàng ngày 150g/ m3.

So với tập tính ăn uống trong sự phát triển cá rô phi trong một hồ biofloc với cá rô phi trong ao kiểm soát tương đương được cho ăn 2 lần một ngày, cá trong ao kiểm soát rất đội, và vội vã dữ dội với thức ăn viên, trong khi cá rô phi trong hồ biofloc ăn một cách lặng lẽ, cho thấy rằng chúng không đói bụng trước khi được cho ăn. Nó có thể được dự đoán rằng việc cho ăn bán liên tục có sẵn với bioflocs sẽ giúp những con cá nhỏ hơn cạnh tranh với các cá lớn trong việc giành thức ăn và do đó đạt được sự thống nhất cao trong  kích cỡ.

Cho ăn

Cho ăn là một điều kiện quan trọng trong việc đạt được tỉ lệ C:N thích hợp, thúc đẩy sự hấp thu amoni trong nước. Ngoài ra, chiến lược cho ăn một cách hiệu quả cho phép cá sử dụng các protein tái chế, giảm chi phí và giảm lượng dư thừa.

Nhu cầu nghiên cứu thêm về việc tối ưu hóa thành phần thức ăn và suất ăn là rất cần thiết. Tỉ lệ C:N được khuyến cáo có thể thu được bằng cách cho ăn với thức ăn viên với nồng độ protein thấp hoặc bằng cách gia tăng thức ăn viên thông qua việc áp dụng các vật liệu carbon như mật đường, sắn, lúa mì hoặc các loại bột khác. Sự lựa chọn hàng đầu là có thể tiết kiệm lao động. Tuy nhiên, cơ sở của tác giả dựa vào sự chuyển hóa và bài tiết của các carbonhydrate bổ sung thông qua cá được dùng bởi vi khuẩn. Không thể giữ được giả định này.

Khẩu phần ăn có thể thấp hơn so được dùng trong những hồ cá rô phi bình thường. Với những hồ tôm, thấy rằng khẩu phần ăn có thể giảm xuống đến 30% tỉ lệ được dùng trong những hệ thống bình thường. Người ta ước tính, nhưng chưa được chứng minh, rằng khẩu phần ăn trong hệ thống biofloc cá rô phi có thể giảm thiếu xuống ít nhất 20% so với mức độn trong hệ thống thông thường

Mật dễ dàng hòa tan và thêm nó vào ao khá đơn giản. Thêm vào bột đòi hỏi nhiều nỗ lực trong quá trình phát tán, sử dụng một máy  trộn trong thùng chứa bên ngoài ao tạo ra một hệ thống treo có thể hỗ trợ quá trình này, như thế tốt hơn là dùng bột khô có xu hướng đóng lại thành bánh trong ao. tag: may quat nuoc

Quản lý oxy

Việc tiêu thụ oxy trong nuôi cá rô phi thâm canh khá cao vì sự hô hấp của các sinh khối cá khá cao cũng như các vi khuẩn chuyển hóa các chất thải hữu cơ. Việc tiêu thụ oxy đã được ước tính trước hoặc theo mô hình của một số nhà khoa học.

Ao dành cho cá rô phi Biofloc có xu hướng khá nhỏ – 100 đến 1000 m2- chủ yếu dựa trên khó khăn về kỹ thuật hòa trộn nước trong những cá thể lớn hơn. Phần lớn các hồ đều hình tròn hoặc vuông với các góc tròn. Các tầng ao thường dốc xuống ở giữ để thuận tiện tập trung và đào thải các chất bẩn xuống cống hàng ngày.

Phạm vi của sự thông khí cần thiết là 10-20hp cho ao 0.1ha. Tuy nhiên, tỉ lệ thông khí chính xác cần thiết cho một ao cần được điều chỉnh theo quyết định hàng ngày của nồng độ oxy trong ao nuôi, với mức độ tốt thiểu bình thường là 4mg oxy/ lít. Người ta nên điều chỉnh việc sử dụng thiết bị sục khí phù hợp với kích thước của cá và sinh khối của ao. Những người điều hành trang trại có thể thường sử dụng mức độ thông khí thấp lúc ban đầu của chu kỳ sản xuất, mặc dù nó được khuyến khích sử dụng năng lượng của ao bằng cách trữ một lượng lớn cá giống và duy trì một lượng sinh khối tương đối ổn định bằng những di chuyển thích hợp.

Việc đặt đúng vị trí thiết bị sục khí rất quan trọng. Hầu hết các sục khí của ao thường hoạt động khiến nước xoay vòng tròn tập trung vào những khu vực ổn định càng gần càng tốt phần thoát nước trung tâm, thường được sử dụng thiết bị sục khí có bánh chèo. Tuy nhiên, có những yêu cầu trái ngược về vấn đề này.

Chúng tôi muốn có thể giải quyết hiệu quả trong việc thoát bùn dư, nhưng vẫn giữ được bioflocs hòa tan trong nước. Để ngăn ngừa việc lắng xuống của những hạt nằm ở vị trí gần khu vực thoát nước trung tâm, người ta khuyến khích đặt một máy sục thổi khí hay cầu chuyển nằm gần trung tâm hồ. Bằng cách điều chỉnh đúng các đơn vị này, khuấy động tối ưu của bioflocs ít dày đặc và sự lắng xuống của những thành phần nặng hơn có thể thực hiện được.

Một yêu cầu rất quan trọng là phải có một hệ thống kiểm tra nhạy bén và đáng tin cậy, và một hệ thống dự phòng. Sự sục khí thất bại ở trong sinh khối cá rất đáng bị chỉ trích nếu những phương án dự phòng không được kích hoạt trong vòng 1 giờ.

Sự kiểm tra

Mặc dù các ao nuôi cá rô phi biofloc hoạt động khá đơn giản, những họ vẫn đòi hỏi những kiểm tra cẩn thận và đưa ra những phản ứng nhanh trước bất cứ vấn đề nào phát hiện được. Kề từ lúc áo bị lấp đầy, bất cứ sai sót nào không phản ứng được đều có thể trở nên nghiêm trong.5 Giám sát nuôi trồng thủy sản bình thường chắc chắn rất cần thiết. Đặc biệt quan trọng ở những thông số sau.

• Oxy, Nếu oxy quá cao, bạn cần phải giảm lại số lượng các thiết bị sục khí để tiết kiệm điện. Tuy nhiên, nếu mức độ oxy thấp hơn 4mg/ L thì cần thêm thiết bị sục khí.

• Tổng Ni tơ ammoniac (TAN). Nồng độ TAN dưới 0.5mg/ L nghĩa là hệ thống đang hoạt động tốt. Bạn có thể xem xét việc thêm ít carbon. Nếu TAN tăng, cần phải phản ứng nhanh chóng việc bổ sung carbon

• Nitrite. Nitrite có thể phản ứng xấu đến cá rô phi, mặc dù ảnh hưởng nó chỉ giới hạn trong nước mặn. Tuy nhiên, sự gia tăng nitrite có thể chỉ ra sự tăng lên của những chỗ khí kị. Trong trường hợp nitrite tăng lên, hãy cẩn thận kiểm tra khu vực bùn, và nếu tìm thấy, hãy thay đổi việc triển khai các thiết bị thông gió.

• Lượng Floc. Xác định khối lượng floc bằng cách sử dụng nón Imhoff là cách khá rẻ và dễ dàng. Lượng Floc nên từ 5-50 mL/ L. Nếu quá thấp, thêm vào carbonhydrates, và nếu cao hơn 50, nên tăng cường loại bỏ bùn.

Sục khí là điều cần thiết, như việc tiêu thụ oxy trong hệ thống biofloc chuyên sâu là khá cao là do hô hoap61 của cá cũng như các vi khuẩn chuyển hóa chất thải hữu cơ.

Người ta ước tính rằng khẩu phần thức ăn trong hệ thống nuôi cá rô phi biofloc có thể giảm ít nhất 20% so với mức hệ thống thông thường.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/tiet-kiem-nuoc-tai-che-chat-thai-cai-thien-kinh-te-58e209c4e4951907628b456b.html

Làm thế nào để kiểm soát ký sinh trùng Microsporidian trong trại tôm

Một loại ký sinh trùng microsporidian đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến nuôi trồng thủy sản ở châu Á. Báo cáo này do tiến sĩ Stephen Newman lấy ra từ thực hành tốt nhất trong việc làm giảm các tác nhân gây bệnh. Báo cáo được xuất bản trong chủ trương nuôi trồng thủy sản toàn cầu,  một ấn phẩm Liên minh Nuôi trồng thủy sản toàn cầu.

Làm thế nào để kiểm soát ký sinh trùng Microsporidian trong trại tôm

Enterocytozoon hepatopenaei (EHP), một loại ký sinh trùng microsporidian đã được tìm thấy rộng rãi ở châu Á và các vùng khác trên thế giới, đang tác động đến sản xuất nuôi trồng thủy sản do làm chậm phát triển tôm nuôi.

Mặc dù các bệnh lý thường gặp nhất với microsporidians là sự đổi màu trắng trong cơ do bào tử chậm tăng trưởng và gây ra các vấn đề, nhưng EHP thì khác.

Nó chỉ gây bệnh các ống gan tụy ở tôm, điều này làm hủy hoại  khả năng của các cơ quan quan trọng này nhằm lấy chất dinh dưỡng từ thức ăn. EHP không gây tử vong nhưng gây hạn chế tăng trưởng.

Trước đây, nó được phân loại là động vật nguyên sinh, phân loại gen đã xác định rằng microsporidians có liên quan chặt chẽ với nấm. Khoảng 100 chi của microsporidians được biết là lây nhiễm động vật giáp xác và cá.

EHP bây giờ là loài đặc hữu trên khắp Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan, Indonesia và Việt Nam, và có khả năng hiện diện ở Ấn Độ và Mexico.

Nó có thể được tìm thấy ở bất cứ đâu, nơi có nhập khẩu thức ăn trực tiếp từ Trung Quốc và các loài động vật từ các khu vực mà EHP là loài địa phương.

EHP là rất khó để tiêu diệt.Chúng tôi chỉ có thể kiểm soát mức độ của nó.

EHP được phát hiện như thế nào?

Các tác nhân gây bệnh có thể được phát hiện bằng cách sử dụng công cụ gen ví dụ như phản ứng chuỗi polymerase (PCR) và thử nghiệm khuếch đại đường đẳng nhiệt vòng trung gian phân từ cá giống. Những phương pháp này cũng có thể được sử dụng với ấu trùng.

Kính hiển vi ánh sáng có thể được sử dụng, mặc dù có thể rất khó để nhìn thấy các bào tử rất nhỏ. Dù hiệu quả nhưng sàng lọc tôm bố mẹ đòi hỏi phải kiểm tra từng cá thể , một thực tế tốn kém.

Ở một số vùng, có thể không có động vật nào nhiễm mầm bệnh. tag: máy quạt nước

Điều trị EHP

Bệnh Microsporidian thường được điều trị bằng loại thuốc đặc trị mà có thể không có hiệu quả tiêu diệt EHP vì đặc mô của nó.

Đối phó với vấn đề này đòi hỏi một chiến lược ba nhánh kết hợp an toàn sinh học trong sản xuất giống, chuẩn bị ao nuôi và quản lý ao thích hợp trong chu kỳ tăng trưởng.

Loại bỏ hoàn toàn microsporidians là không thể. Giải pháp tốt nhất là giảm bớt số lượng xâm nhập vào ao và kiểm soát các cấp độ hệ sinh thái cho phép.Các sinh vật gây bệnh trực tiếp của EHP trong ao vẫn chưa được xác định.

An toàn sinh học trong sản xuất giống

Thực hành đúng và an toàn sinh học trong sản xuất giống có thể giúp kiểm soát EHP.

Không cho ăn thức ăn sống

Cá giống trưởng thành cũng như những con cho ăn thức ăn sống bị nhiễm vius, có thể bị nhiễm và lây lan EHP qua phân.

Việc sử dụng động vật sống – bao gồm giun nhiều tơ, nghêu, mực nước ấm và Artemia địa phương – trong các cơ sở nuôi cá giống đặt ra một nguy cơ an toàn sinh học quan trọng và không được khuyến khích.

Thức ăn sống như loài nhuyễn thể không có nguy cơ. Nếu sử dụng thức ăn sống, chúng nên được đông lạnh, khử trùng hoặc thậm chí chiếu xạ.

Tẩy uế

Các cơ sở nuôi và trại giống nên được làm khô hoàn toàn, rửa sạch và sau đó khử trùng bằng dung dịch kiềm natri hydroxit. Tất cả các thiết bị, đường ống và bể chứa cần được ngâm trong dung dịch natri hydroxit 2,5%  ít nhất ba tiếng.

Sau đó, dung dịch kiềm còn lại nên được rửa sạch, và tất cả các vật liệu xử lý phải để khô trong một thời gian dài. Rửa sạch trước khi sử dụng với clo axit hóa 200 ppm và pH nhỏ hơn 4,5.

Bào tử Microsporidian rất có sức đề kháng với hầu hết các phương pháp điều trị nên loại bỏ hoàn toàn sẽ là một thách thức. Mục đích là giảm đáng kể số lượng xâm nhập.

Trứng sạch, nauplius

Chiến lược đã được chứng minh cho việc rửa nauplii với sự pha trộn thích hợp nước ngọt và hóa chất (i-ốt và formaldehyde, trong số hóa chất khác) có thể làm suy yếu các bào tử thụ động có trong trứng và ấu trùng – nhờ vậy làm giảm lây nhiễm – nên trở thành thói quen.

Đây là một công cụ hiệu quả chống lại EHP, cũng như giảm tải các vi khuẩn gây ra hội chứng tử vong sớm truyền từ tôm bố mẹ đến ấu trùng.

Chuẩn bị ao nuôi

Những loài hữu cơ cao thường liên quan đến các bào tử. Có thể có một số sinh vật trung gian, và cho đến khi chắc chắn nó là gì thì chúng tôi sẽ sử dụng các chiến lược để điều trị trầm tích đúng cách trước khi thả giống.

Bởi vì bào tử thường đề kháng với một loạt các điều kiện môi trường, các loài khác  nhau thể hiện sự nhạy cảm khác nhau, nên những đề xuất chung nhằm loại bỏ chất hữu cơ tích lũy và điều trị đáy ao với vật liệu ăn da giúp mang lại độ pH12 và giết các bào tử. Việc tiêu diệt tất cả chúng thì không thể.

Ao đất nên được khử trùng với oxit canxi, hoặc vôi sống, áp dụng ở mức 6.000 kg / ha hoặc cao hơn.

Đáy ao phải được làm khô hoàn toàn.Rải vôi vào trầm tích khô đến độ sâu 10-12 cm, sau đó làm ẩm các trầm tích để kích hoạt vôi.

Nếu ứng dụng được thực hiện đúng cách thì độ pH của đất sẽ tăng đến 12 hoặc hơn trong vòng vài ngày và sau đó dần dần trở lại bình thường bởi vì vôi trở thành canxi cacbonat. tag: may quat nuoc

Quản lý ao

Sau khi đất đã được cải tạo, sử dụng các sản phẩm thương mại phù hợp từ  giai đoạn bắt đầu nuôi để ngăn chặn sự tích tụ một lượng lớn chất hữu cơ. Có thể sử dụng một cách hoặc kết hợp với trao đổi nước.

Mục đích là để giảm bớt lượng chất hữu cơ tích lũy và do đó làm giảm hồ chứa tiềm năng cho các bào tử  tiêu hóa và tiếp tục lây nhiễm sang tôm. Việc sử dụng hợp lý ở các mức độ giảm bớt lượng chất hữu cơ là rất quan trọng.

Triển vọng

Việc giảm số lượng bào tử trong môi trường sản xuất bằng cách giảm lây truyền sai của chúng như một kết quả của các bề mặt bị ô nhiễm do sinh sản, kết hợp với  việc giới hạn hồ chứa các bào tử, sẽ làm giảm mức độ nghiêm trọng của EHP.

Sử dụng phù hợp các phương pháp này sẽ giảm bớt những tác động lâu dài và giảm các bào tử môi trường.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/lam-the-nao-de-kiem-soat-ky-sinh-trung-microsporidian-trong-trai-tom-58bfb457e495199a1f8b456b.html

Kỹ thuật nuôi cá tra thương phẩm trong ao

1. Chuẩn bị ao nuôi

Ao nuôi cá tra có diện tích từ 500 m2 trở lên, có độ sâu nước 1,5-2m, bờ ao chắc chắn và cao hơn mực nước cao nhất trong năm.

Kỹ thuật nuôi cá tra thương phẩm trong ao

Cần thiết kế cống để chủ động cấp thoát nước dễ dàng cho ao. Trước khi thả cá phải thực hiện các bước chuẩn bị sau:

– Tháo cạn hoặc tát cạn ao, bắt hết cá trong ao. Dọn sạhc rong, cỏ dưới đáy ao và bờ ao.

– Vét bớt bùn lỏng đáy ao, chỉ để lại lớp bùn đáy dày 0,2-0,3 m.

– Lấp hết hang hốc, lỗ mọi và tu sửa lại bờ, mái bờ ao.

– Dùng vôi bột rải khắp đáy ao va bờ ao, 7-10 kg/100m2.

– Phơi đáy ao 2-3 ngày.

Sau cùng cho nước từ từ vào ao qua cống có chắn lưới lọc để ngăn cá dữ và dịch hại lọt vào ao. tag: máy quạt nước

2. Thả cá giống

Cá thả nuôi phải mạnh khoẻ, đều cỡ, không bị sây sát, nhiều nhớt, bơi lội nhanh nhẹn.

– Kích cỡ cá thả: 10-12 cm

– Mật độ thả nuôi: 15-20 con/m2.

3. Thức ăn

Sử dụng nguyên liệu có sẵn tại dịa phương và phối chế hợp lý để đảm bảo hàm lượng protein từ 15-20%. Một số công thức thức ăn có thẻ tham khảo ở bảng sau:

Công thức 1 Công thức 2 Công thức 3
Nguyên liệu Tỉ lệ (%) Nguyên liệu Tỉ lệ (%) Nguyên liệu Tỉ lệ (%)
Cám gạo

Cá vụn, dầu cá, ruột cá

Rau xanh

60

30

10

Cám gạo

Bột bắp

Bột cá khô

Rau xanh

50

25

15

10

Cám gạo

Bột cá

Khô dầu

Rau xanh

60

20

10

10

Hàm lượng protein (%) ước tính 15-16 15-16 16-18

– Cách cho ăn: Các nguyên liệu được xay nuhyễn, trộn đều cùng chất kết dính (bột gòn) để hạn chế việc tan rã nhanh của thức ăn, sau đó rải từ từ cho cá ăn từng ít một cho đến khi hết thức ăn.

Mỗi ngày cho cá ăn 2 lần sáng và chiều tối Khẩu phần thức ăn 5-7% trọng lượng thân. tag: may quat nuoc

4. Quản lý chăm sóc

– Theo dõi mức độ ăn của cá để điều chỉnh tăng giảm cho phù hợp. Khi bắt đầu cho ăn vì cá đói nên tập trung để giành ăn. Khi ăn đr no thì cá tản ra xa, khôn go lại nữa.

– Mặt dù cá tra chịu rất tốt trong điều kiện nuôi mật độ cao và nước ao ít thay đổi, nhưng pahỉ chú ý định ký thay bỏ nước cũ và cấp nước mới để môi trường ao luôn sạch, phòng cho cá không bị nhiễm bệnh.

Cứ 10 ngày thì thay ½-1/3 nước cũ và cấp đủ nước sạch cho ao.

5. Thu hoạch

Thời gian nuôi trung bình 10 tháng, cá dạt cỡ 0,7-1,5 kg/con. Có thể thu hoạch 1 lần và giữ lại cá nhỏ chưa đạt cỡ thương phẩm. Sau vụ thu hoạch phải tát cạn ao và làm công tác chuẩn bị cho vụ nuôi kế tiếp.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/ky-thuat-nuoi-ca-tra-thuong-pham-trong-ao-33221.html

Kỹ thuật nuôi cá lồng bè trên sông

Trong ảnh: Nuôi cá lồng đem lại hiệu quả cho nhiều hộ dân     Ảnh: Lê Cung 

Kỹ thuật nuôi cá lồng bè trên sông

Vị trí đặt lồng

Vị trí đặt lồng liên quan mật thiết đến việc phát triển của cá nuôi và quá trình chăm sóc. Khi đặt lồng, người nuôi cần lưu ý các vấn đề sau:

– Lồng cá được đặt ở nơi thông thoáng, có dòng nước luôn lưu thông, tốc độ chảy đạt 0, 2 – 0,3 m/s, nước sạch không bị ô nhiễm bởi các chất thải công nghiệp, nông nghiệp, nước sinh hoạt. Độ sâu từ 3 m trở lên, đáy lồng cách đáy sông ít nhất 0,5 m.

– Không đặt lồng ở nơi nước đứng hoặc nước chảy xiết, những khúc sông hay bị sạt lở.

– Vị trí đặt lồng phải thuận lợi giao thông để thuận tiện trong việc cung cấp con giống, thức ăn, chăm sóc, quản lý, thu hoạch và vận chuyển tiêu thụ sản phẩm.

– Môi trường nước để đặt lồng tốt nhất phải đảm bảo các yếu tố sau: pH 6,5 – 8,5; DO > 5 mg/l; NH3 < 0,01 mg/l; H2S < 0,01 mg/l, nhiệt độ nước 20 – 330C.

– Vùng nuôi lồng bè nằm trong vùng đã được quy hoạch cho từng đối tượng thủy sản của địa phương hoặc đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. tag: máy quạt nước

Cách đặt lồng bè

– Diện tích lồng bè chiếm không quá 0,2% diện tích khu vực mặt nước lúc cạn nhất. Trên một đoạn sông dài 1.000 m, rộng 500 m chỉ được phép đặt 100 lồng, mỗi lồng diện tích 10 m2/lồng.

– Lồng có diện tích 10 m2 đặt thành từng lồng, mỗi cụm lồng có 15 – 20 lồng, khoảng cách giữa các cụm lồng là 300 – 500 m.

– Các lồng phải được đặt so le để tạo sự lưu thông cho dòng chảy, khoảng cách giữa các lồng là 10 – 15 m, đáy lồng cách mặt đáy sông không nhỏ hơn 0,5 m.

– Trên lồng làm một nhà bảo vệ đủ để cho 1 – 2 người sinh hoạt trông coi thường xuyên, vật liệu làm nhà có thể bằng tôn, gỗ, tre…

Thả cá giống

Chọn giống: Hiện nay, các loại cá được thả nuôi lồng trên sông khá đa dạng và cho hiệu quả kinh tế cao như cá điêu hồng, cá lăng, cá trắm, cá chép…

Để quá trình nuôi được thuận lợi cần chọn con giống khỏe mạnh, không dị hình, dị tật, không xây sát, kích cỡ cá đồng đều. Cá hoạt động nhanh nhẹn, linh hoạt. Nên chọn mua tại các cơ sở sản xuất giống uy tín, đảm bảo chất lượng. Trong nuôi cá lồng, để đảm bảo năng suất và tỷ lệ sống cao người nuôi nên thả cá có kích cỡ lớn.

Mật độ thả: Tùy thuộc vào vị trí đặt lồng và các vùng sinh thái thủy vực để thả nuôi với mật độ thích hợp. Theo khuyến cáo, mật độ thả cá nuôi lồng trên hồ như bảng 1.

Thả cá vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát. Trước khi thả cá cần phải tắm cho cá giống bằng nước muối 2 – 3% trong 10 – 15 phút để loại bỏ tác nhân gây bệnh như ngoại ký sinh trùng. Cần cân bằng môi trường lồng nuôi và bao chứa cá giống 10 – 15 phút, sau đó mới thả từ từ để cá có thể thích nghi, tránh bị sốc môi trường. tag: may quat nuoc

Quản lý, chăm sóc

Cho ăn

Thức ăn cho cá nuôi lồng có thể là thức ăn công nghiệp hoặc thức ăn tự chế tại các vùng có thể tận dụng được các nguyên liệu tại địa phương. Đối với thức ăn công nghiệp, người nuôi nên chọn thức ăn dạng viên nổi và không tan trong nước để hạn chế hao hụt thức ăn và giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước. Thức ăn cần đảm bảo hàm lượng đạm 20 – 30% để cá có thể phát triển tốt. Đối với thức ăn tự chế, người nuôi có thể tham khảo một số công thức sau: 60% cám gạo + 10% bột đậu nành + 10% rau xanh + 15% vitamin + 5% khoáng. Hoặc 40% cám gạo + 40% khô dầu lạc + 20% bột cá. Quan sát hoạt động bắt mồi của cá và mức độ ăn của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp. Vớt thức ăn cũ còn thừa trong lồng trước khi cho thức ăn mới.

Cho cá ăn ngày 2 – 3 lần, cho ăn đúng giờ để tạo phản xạ cho cá. Thức ăn đưa xuống từ từ hoặc đưa nhiều điểm để tất cả cá đều được ăn. Không nên cho cá ăn quá nhiều, nhất là lúc gần tới giai đoạn thu hoạch. Định kỳ bổ sung 5 ngày liên tục bằng thức ăn có trộn Vitamin C (2 g/kg thức ăn). Giảm lượng thức ăn khi cá có hiện tượng bắt mồi kém hay thời tiết thay đổi.

Trong quá trình nuôi cần theo dõi tăng trưởng của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp. Kiểm tra tăng trưởng của cá định kỳ 2 lần/tháng để ước lượng được khối lượng cá trong lồng từ đó điều chỉnh lượng thức ăn cho hợp lý.

Theo dõi sức khỏe cá

Hàng ngày phải chú ý theo dõi các hiện tượng, hoạt động của cá trong lồng nuôi để kịp thời phát hiện các dấu hiệu bất thường của cá và có biện pháp xử lý kịp thời.

Ở các khu vực nuôi có bệnh xảy ra, cần cách ly những lồng, bè bị bệnh bằng biện pháp kéo lồng bè xuồng vị trí cuối dòng nước chảy và kịp thời chữa bệnh cho cá. Khi cá nuôi bị bệnh nặng và có khả năng lây lan, phải tiến hành thu hoạch ngay toàn bộ lồng nếu đã đạt yêu cầu thương phẩm.

Cần áp dụng triệt để các biện pháp phòng bệnh cho cá. Định kỳ bổ sung thêm Vitamin C để tăng sức đề kháng cho cá nuôi.

Vệ sinh lồng, bè

– Trước khi thả cá và sau mỗi đợt thu hoạch, đưa lồng lên cạn (nếu có điều kiện) dùng vôi quét trong và ngoài lồng hoặc dùng Chlorine 30 ppm phun lên lồng, sau đó phơi khô 1 – 2 ngày.

– Trong quá trình nuôi, mỗi tuần vệ sinh lồng ít nhất một lần, cọ sạch các cạnh bên trong và ngoài lồng lưới, loại bỏ rác trôi nổi và các vật cứng bám vào cụm lồng nuôi. Trước khi cho ăn cần vớt bỏ thức ăn thừa trong lồng, bè.

– Trong quá trình làm vệ sinh cần kiểm tra lồng, phát hiện kịp thời các mắt lưới gần rách, vết rạn nứt để vá lại ngay nhằm hạn chế cá thất thoát.

– Những ngày thời tiết xấu như mưa, bão… nên kiểm tra lồng cẩn thận, neo và thêm dây neo đảm bảo không bị đứt dây neo khi có dòng chảy mạnh, neo lồng vào những nơi an toàn, có thể thu hoạch bớt cá lớn để giảm trọng lượng trong lồng và giảm thiệt hại.

– Thường xuyên treo các túi vôi với lượng 2 – 4 kg/10 m3 nước ở đầu nguồn nước hoặc khu vực cho ăn trong các lồng bè để khửã trùng và khử chua cho môi trường nước. Hoặc định kỳ 2 lần/tháng sử dụng viên sủi Vicato với lượng 50 g/10 m3 nước để sát trùng, phòng bệnh cho cá nuôi.

Khi cá đạt kích cỡ thương phẩm có thể tiến hành thu hoạch toàn bộ hoặc thu tỉa cá lớn, tiếp tục nuôi các cá nhỏ hơn và đến cuối vụ thu hoạch toàn bộ.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/ky-thuat-nuoi-ca-long-be-tren-song-58e4a062e49519e3688b456c.html

Kỹ thuật nuôi tôm càng xanh không có lũ

Mực nước lũ ở khu vực ĐBSCL những năm gần đây luôn ở mức thấp, không đủ để tràn đồng, ảnh hưởng không nhỏ đến nghề nuôi tôm càng xanh của bà con nơi đây. Do đó, mô hình nuôi tôm càng xanh không có lũ phát triển nhằm thích ứng với tình hình biến đổi khí hậu hiện nay.

Kỹ thuật nuôi tôm càng xanh không có lũ

Sau 2 – 2,5 tháng nuôi, thu hoạch tôm cái để giảm chi phí nuôi   Ảnh: Diệu Lữ

Chuẩn bị ruộng nuôi

Tiến hành cắt dọn sạch gốc rạ, sên vét mương bao, bừa trục mặt ruộng, sửa lại bờ bao, lắp các lỗ mọi, hang hốc. Ruộng nuôi tốt nhất là hình chữ nhật diện tích 0,1 – 1 ha, thông thường 0,2 – 0,5 ha. Bờ ruộng chắc chắn giữ được nước, ngăn chặn sự xâm nhập của địch hại, mặt ruộng thấp dễ dàng cấp và tiêu nước. Mực nước trong ruộng đảm bảo 1,8 – 2 m.

Cần thiết kế ao ương nằm trong ruộng nuôi với diện tích khoảng 30% tổng diện tích ruộng nuôi; mục đích thuần dưỡng tôm trong giai đoạn ban đầu, giúp cho việc chăm sóc và quản lý được thuận lợi. Ngoài ra, xây dựng ao ương chính là giúp việc phân loại (đực và cái) khi thả tôm ra ruộng nuôi được dễ dàng, tốn ít chi phí cho việc kéo lưới, đồng thời giảm hao hụt do xây xát. Mực nước trong ao ương phải luôn ở mức 1,2 – 1,4 m.

Chọn tôm giống

Có thể lựa chọn nguồn giống tự nhiên hoặc giống nhân tạo. Chọn tôm màu sắc tươi sáng, đều cỡ, khỏe mạnh, không dị tật dị hình, và đã qua kiểm dịch của cơ quan chuyên môn.

Mật độ thả

Mật độ nuôi trong ao ương là khoảng 50 con/m2. Hoặc có thể thay đổi tùy theo khả năng bổ sung giống và thức ăn. tag: máy quạt nước

Thức ăn

Sử dụng cả 2 loại thức ăn công nghiệp (có độ đạm 38 – 42%) và thức ăn tươi sống như cua, ốc, cá tạp… Tùy vào giai đoạn sinh trưởng và sức khỏe của tôm nuôi để điều chỉnh lượng thức ăn, dao động 5 – 30% trọng lượng tôm. Tuy nhiên, cần lưu ý không sử dụng quá nhiều thức ăn tươi sống để tránh làm ô nhiễm môi trường nước.

Quản lý cho ăn

Cho ăn 2 – 4 lần/ngày. Thức ăn nên được rải nhiều điểm trong ao ương hay sàng ăn đặt trong ruộng nuôi. Cần theo dõi khả năng bắt mồi và độ no trên dạ dày của tôm để điều chỉnh lượng thức ăn thích hợp, tránh trường hợp dư thừa.

Chăm sóc, quản lý

Vì trong điều kiện nuôi khép kín dẫn đến nguy cơ thiếu ôxy cục bộ có thể xảy ra, đặc biệt là trong giai đoạn ương dưỡng. Vì vậy, cần thiết phải có hệ thống quạt nước được lắp đặt trong ao ương nhằm làm tăng hàm lượng ôxy hòa tan, giúp tôm sinh trưởng và phát triển tốt. Máy quạt nước được đặt cách bờ 3 – 4 m nhằm tránh hiện tượng dòng chảy làm vỡ bờ hay làm đục nước sẽ ảnh hưởng đến hô hấp của tôm. Đối với ruộng nuôi không cần thiết phải lắp đặt quạt nước do lúc này tôm được nuôi với mật độ thưa, nhu cầu ôxy không quá cao. Ngoài ra, người nuôi cần đặt giá thể (chà) trong ruộng nuôi, giá thể được làm bằng những loại cây không có tinh dầu như tre, nứa… được đặt nghiêng một góc 300 so mặt đáy ruộng. Việc đặt giá thể giúp tôm có chỗ trú ẩn và tránh hiện tượng ăn nhau khi lột xác.

Tốt nhất không nên sử dụng thuốc trừ sâu, sẽ làm ảnh hưởng đến tôm. Khi thu hoạch lúa cần tháo nước, thu hoạch xong lại cho nước vào để tôm lên ruộng ăn thức ăn tự nhiên. Giai đoạn này cần thay nước thường xuyên để tránh thối nước do gốc rạ.

Phòng chống và theo dõi thường xuyên địch hại của tôm để giảm sự ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và năng suất của tôm. tag: may quat nuoc

Thu hoạch

Sau thời gian 2 – 2,5 tháng ương, tôm cái đã bắt đầu mang trứng và có thể phân biệt bằng mắt thường, tiến hành kéo lưới để lựa tôm đực cho ra ruộng nuôi khoảng 3 – 4 tháng nữa. Đối với tôm cái, đến giai đoạn sinh sản sẽ không tăng trọng lượng do tôm tập trung dinh dưỡng để phát triển buồng trứng, vì vậy nếu tiếp tục nuôi sẽ không hiệu quả, nên tiến hành thu hoạch để thu hồi một phần chi phí.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/ky-thuat-nuoi-tom-cang-xanh-khong-co-lu-596433b8e49519ba588b456c.html

Phương pháp mới dựa trên PCR để phát hiện bệnh tôm

Tiến sĩ Lo cũng tuyên bố rằng, phương pháp trên đã được đưa vào thử nghiệm công khai, chắc chắn sẽ là tin tức sốt dẻo cho các nhà nghiên cứu tôm trên thế giới, vì nó sẽ giúp kiểm soát sự bùng phát của căn bệnh này

Phương pháp mới dựa trên PCR để phát hiện bệnh tôm

Nhóm của Tiến sĩ Lo đã phối hợp với Tiến sĩ Flegel từ Đại học Mahidol trong vài tháng qua và phát triển một phương pháp Phản ứng chuỗi trùng hợp (PCR) để phát hiện EMS, còn gọi là bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND), một căn bệnh của tôm nuôi.

“Chúng tôi quyết định phát hành, miễn phí cho công chúng tiếp cận, thông tin chi tiết về trình tự và các giao thức từ nghiên cứu của chúng tôi cho một phương pháp phát hiện dựa trên PCR đối với vi khuẩn gây AHPND, do sự bùng phát nghiêm trọng và lan rộng hiện của căn bệnh này”, tiến sĩ Lo cho biết. tag: máy quạt nước

Bà cũng lưu ý rằng, vi khuẩn gây AHPND thuộc chủng Vibrio parahaemolyticus (VP), nhưng chúng có plasmid độc đáo không hiện diện trong VP không gây bệnh.

Nhóm của Tiến sĩ Lo đã sử dụng một chiến lược trình tự toàn bộ hệ gen để xác định các plasmid như là mục tiêu để phát hiện và họ đã thiết kế hai cặp mồi (AP1 và AP2) cho phương pháp PCR, một xét nghiệm nhanh để phát hiện VP có hại.

“Nếu tôm có VP độc hại, mồi AP1 và AP2 sẽ xác định VP và đưa ra một phản ứng tích cực”, tiến sĩ Lo giải thích.

Tiến sĩ Lo cho biết, AHPND đang gây ra tỷ lệ tử vong cao trong tôm nuôi ở Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan và Malaysia.

Ông lưu ý rằng bệnh lần đầu tiên được báo cáo trong năm 2009, và giờ đây đã gây thiệt hại trên 1 tỷ USD mỗi năm. tag: may quat nuoc

Loại dịch bệnh này được mô tả như là AHPND, trong trường hợp không có bất kỳ dấu hiệu của một tác nhân gây bệnh đi kèm, trong thời gian mới bắt đầu thả nuôi khoảng 35 ngày.

Phương pháp PCR nhanh để xác định liệu tôm có bị nhiễm vi khuẩn gây AHPND hay không sẽ rất có lợi cho ngành công nghiệp sản xuất tôm.

Ngoài ra, phát hiện nhanh AHPND có thể rất có giá trị đối với thị trường thủy sản nuôi, Tiến sĩ Lo cho biết.

Bà lưu ý rằng, việc phát hành thông tin quan trọng này sẽ giúp các bên liên quan quan tâm đến việc phát triển các biện pháp giảm nguy cơ bùng phát AHPND

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/phuong-phap-moi-dua-tren-pcr-de-phat-hien-benh-tom-39656.html

Vai Trò Của Oxy Trong Ao Nuôi Tôm

Oxy (O2) có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì sự sống của tôm, cá và sinh vật hiếu khí trong môi trường nước. Trong cơ thể tôm, cá thì oxy có các vai trò quan trọng như:

(i) là nguyên liệu cho quá trình oxy hóa tạo năng lượng để cung cấp cho hoạt động của các cơ quan trong cơ thể;

(ii) tham gia vào các phản ứng biến dưỡng và nhiều phản ứng sinh hóa khác;

(iii) là thành phần của các nhóm phân tử cấu trúc chính trong các cơ tôm, cá như các chất đạm (protein), chất bột đường (carbohydrate), mỡ (lipid)…

(iv) có trong các hợp chất vô cơ quan trọng cấu tạo nên răng và xương.

Vai Trò Của Oxy Trong Ao Nuôi Tôm

Tôm, cá khi hô hấp lấy oxy vào cơ thể qua mang và hàm lượng oxy hòa tan trong nước có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hô hấp của chúng. Cấu tạo mang của các loài có khác nhau, ví dụ mang cá bao gồm cung mang, tia mang và phiến mang; số đôi cung mang cá có thể thay đổi tùy loài, thường dao động trong khoảng từ 4-7 đôi; ví dụ mang cá tra bao gồm 4 đôi cung mang, mỗi cung mang gồm 2 hàng tia mang (Hình 1). Mang tôm (hay giáp xác nói chung) thì phát triển từ gốc chân ngực, có lớp chitin mỏng bao suốt bề mặt mang, gốc mỗi mang có trục trung tâm chứa mạch máu đi vào và đi ra.

Hình thức hô hấp: đa số các loài tôm, cá hô hấp hoàn toàn trong nước và oxy được cung cấp từ môi trường nước. Tuy nhiên, có một số loài cá có cơ quan hô hấp khí trời hoặc một số giáp xác có khả năng hô hấp trên cạn do ở mang có buồng chứa khí. Cơ quan hô hấp khí trời là cơ quan có khả năng lấy oxy từ không khí. Hô hấp khí trời cũng được chia thành 2 hình thức là hô hấp khí trời bắt buộc và hô hấp khí trời không bắt buộc. Những cá hô hấp khí trời bắt buộc thì cần phải thực hiện quá trình hô hấp khí trời thì mới đủ oxy cung cấp cho cơ thể hoạt động, mặc dù trong môi trường có đầy đủ oxy, nếu không thực hiện được chức năng hô hấp khí trời thì cá sẽ chết vì oxy cung cấp không đủ cho cơ thể hoạt động (những loài này mang thường phát triển không tốt, bị thoái hóa một vài đôi; ví dụ cá lóc và cá rô là đại diện của những loài cá có cơ quan hô hấp khí trời bắt buộc). Hô hấp khí trời không bắt buộc thì nếu trong môi trường có oxy đầy đủ thì cá không cần thực hiện chức năng hô hấp khí trời, những loài này mang rất phát triển giống như những loài hô hấp hoàn toàn trong nước; cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) là loài tiêu biểu có cơ quan hô hấp khí trời không bắt buộc, mang của cá tra rất phát triển, tia mang dài, dày và nhiều. tag: máy quạt nước

Sự kết hợp của oxy và hemoglobin ở mang cá xảy ra theo phản ứng thuận nghịch, không có sự tham gia của chất xúc tác mà chỉ do sự chênh lệch về hàm lượng oxy hay áp suất riêng phần của oxy trong môi trường nước so với máu. Vì vậy, khi việc cung cấp oxy bị ngừng hoặc nhu cầu tiêu thụ oxy của cơ thể gia tăng; hàm lượng oxy cung cấp hoặc nồng độ hòa tan oxy giảm thấp hơn nhu cầu cần thiết của cơ thể thì được gọi là hiện tượng thiếu hụt oxy hay là hiện tượng oxy hòa tan thấp làm cho cá chết.

Nhiều trường hợp thiếu hụt oxy trong ao nuôi cá ở Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) đã được ghi nhận (Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2010). Sự thiếu oxy trong ao cá tra có thể do ao nuôi cá có nhiệt độ nước cao (biến động 28-32°C) dẫn đến hệ số hòa tan oxy vào nước giảm, mật độ nuôi quá cao, đáy ao có nhiều hợp chất hữu cơ tích tụ hay sục khí không đầy đủ.

Trong ao cá tra thì oxy thường cao ở lớp nước mặt (1 mét) vào ban ngày và có thể giảm rất thấp vào ban đêm. Ao nuôi cá tra hầu hết không có sục khí có thể do hiểu biết trước đây là cá tra là loài có cơ quan hô hấp phụ bắt buộc (Browman and Kramer, 1985) nên cá không phụ thuộc vào hàm lượng oxy trong nước.

Tuy nhiên, Lefevre et al., (2011) đã chứng minh cá tra là loài có cơ quan hô hấp phụ không bắt buộc, nếu hàm lượng oxy trong nước đầy đủ sẽ có lợi cho cá rất nhiều bởi vì sự thiếu hụt oxy trong ao sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của cá như oxy không cung cấp đủ cho quá trình tăng trưởng.

Sjannie et al (2011) cũng xác định hàm lượng oxy trong nước đạt phải 38% bão hòa (tương đương 3 mg/L) thì chỉ đủ cung cấp đủ oxy cho cá tra hoạt động duy trì sự sống và vì thế cá phải thường xuyên ngoi lên mặt nước để lấy oxy từ khí trời mới có đủ oxy cho quá trình trao đổi chất và tăng trưởng. Sjannie et al (2011) cũng nhận thấy khi hàm lượng oxy trong nước cao (100% bão hòa) thì cá tra rất ít lấy oxy từ không khí, nhưng khi oxy trong nước chỉ 30% bão hòa thì cá chuyển sang lấy oxy trong không khí mà ít lấy oxy trong nước. Vì vậy, trong ao cá tra thì cá chỉ sống ở phần tầng mặt của cột nước nước (khoảng 25% chiều sâu cột nước). Tiêu hao oxy trung bình của cá tra khoảng 150 mg oxy/kg/giờ (Sjannie et al., 2011).

Khi nuôi cá tra trong bể có hàm lượng oxy cao (100% bão hoà thì cá tăng trưởng nhanh hơn cá nuôi ở 30% và 60% bão hòa (Sjannie et al. 2010). Tương tự, Karna (2003) khi nghiên cứu tăng trưởng của cá bơn (flounder) ở các hàm lượng oxy hòa tan 2,2; 5 và 6,7 mg/L thì thấy sự tăng trưởng của cá nuôi trong môi trường có hàm lượng oxy cao (6,7 mg/L) cao hơn gấp 2 lần so với cá ở hàm lượng oxy thấp (2,2 mg/L).

Cá hồi có hiện tượng chết xảy ra khi hàm lượng oxy hòa tan là 3,5-4 mg/L ở nhiệt độ 20oC và tỉ lệ chết bắt đầu tăng lên nhanh chóng khi hàm lượng oxy ở mức 3 mg/L và cá chết gần hết khi hàm lượng oxy là 2-2,5 mg/L. Nhu cầu oxy hòa tan nếu duy trì ở mức trên 4-4,5 mg/L thì sẽ ngăn chặn cá hồi chết hay bị stress (Karna, 2003). tag: may quat nuoc

Hàm lượng oxy trong ao nuôi tôm cũng cần phải được cung cấp đầy đủ bởi khả năng mang oxy của hemocyanin ở tôm thấp hơn so với hemoglobin ở cá (1 g hemoglobin bão hòa oxy sẽ chứa được 2,34 mL oxy, trong khi 1 g hemohyanin bão hòa chỉ chứa được 0,26 mL oxy). Sự thiếu hụt oxy trong ao nuôi tôm thường do thả nuôi với mật độ dày, thay nước không nhiều, vi sinh vật phát triển quá mức cho phép, chất hữu cơ lắng đọng do thức ăn thừa và phân thảy ra từ tôm…

Hiện tượng thiếu hụt oxy sẽ kéo theo những điều bất lợi như thời gian thức ăn qua dạ dày tôm nhanh, độ tiêu hoá thức ăn (đạm và năng lượng thấp), tỉ lệ bắt mồi cũng bị hạn chế… những điều này sẽ dẫn đến tăng trưởng chậm, tỉ lệ sống thấp (Đoàn Xuân Diệp và ctv., 2010) và thành phần dưỡng chất của cơ thể sẽ thay đổi.

Khảo sát tăng trưởng và tỉ lệ sống của tôm Farfantepenaeus californiensis giống khi nuôi ở 2 mức oxy hòa tan trung bình là 5,8 và 2,6 mg/L kết hợp với 3 mức nhiệt độ là 19, 23 và 27oC trong 50 ngày thì thấy tỉ lệ sống của tôm là 68-85% ở hàm lượng oxy hòa tan là 2,6 mg/L và 77-82% ở nồng độ oxy hòa tan là 5,8 mg/L. Tăng trưởng của tôm ở nồng độ oxy hòa tan thấp chậm hơn so với ở nồng độ oxy hòa tan cao.

Tăng trưởng của tôm là 2, 12 và 24 mg/ngày tương ứng với mức nhiệt độ từ 19, 23 và 27°C ở nồng độ oxy 2,6 mg/L, và tăng trưởng là 4, 17 và 26 mg/ngày ứng với mức nhiệt độ từ 19, 23 và 27°C ở nồng độ oxy 5,8 mg/L. Chất béo trong cơ thể tôm là 1,2% so với khối lượng cơ thể khi nuôi ở nhiệt độ cao và 2,1% ở mức nhiệt độ thấp hơn, trong khi chất đạm là 15,1% ở nhiệt độ cao và 12,5% ở nhiệt độ thấp hơn. Kết quả cho thấy, khi nồng độ oxy hòa tan thấp và nhiệt độ thấp đã làm giảm sự tăng trưởng của tôm ở giai đoạn giống (Ocampo et al., 2001).

Tóm lại, oxy là yếu tố rất cần thiết, thiếu oxy sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình bắt mồi, tăng trưởng, sinh sản của tôm, cá. Vì vậy, người nuôi cá cần phải chú ý mật độ thả nuôi thích hợp hoặc tăng cường sục khí để bảo đảm đầy đủ oxy cho ao nuôi.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/vai-tro-cua-oxy-trong-ao-nuoi-tom-3599.html

Cấu trúc và cơ chế đáp ứng miễn dịch của tôm sú

Động vật không xương sống, trong đó có tôm chỉ phát triển hệ miễn dịch tự nhiên (innate immunity).

Hệ miễn dịch tự nhiên chia ra làm hai hệ thống bảo vệ chính: miễn dịch tế bào (cellular barriers) và miễn dịch dịch thể (Humoral barriers).

Miễn dịch tế bào bao gồm hệ thống thực bào (phagocytocis), tạo thể bao (encapsulation), thể hạch (nodulation) bao vây vật thể lạ xâm nhập và sau đó phá hủy thông qua hệ thống hoạt hóa Pro-phenoloxidase (proPO activating system).

Cấu trúc và cơ chế đáp ứng miễn dịch của tôm sú

Ngoài ra, trong đáp ứng miễn dịch kháng virus còn có cơ chế apoptosis.

Miễn dịch dịch thể bao gồm các hệ thống: bổ thể (complement system), đông máu (hemolymph coagulation system), yếu tố dính kết tế bào (agglutinin – lectin system) và quá trình tổng hợp các loại peptide kháng khuẩn, kháng nấm và kháng virus.

Ngoài ra, vỏ kitin ở tôm là rào cản vật lý có vai trò trong các quá trình sinh lý khác nhau liên quan đến các phản ứng miễn dịch.

1. Đáp ứng miễn dịch tế bào

1.2. Thành phần tế bào

Động vật giáp xác có hệ thống tuần hoàn mở với máu màu xanh lá cây, tuần hoàn qua mạch máu và đưa đến các mô.

Các tế bào máu (hemocytes) và thành phần dịch thể được vận chuyển trong máu giúp chúng tiếp xúc dễ dàng với các phân tử từ bên ngoài.

Sự tạo máu hình thành nên các tế bào trưởng thành của hệ thống miễn dịch tự nhiên, số lượng tế bào máu thể hiện vai trò bảo vệ vật chủ và sự cân bằng.

Sự hình thành tế bào máu được điều khiển bởi các tín hiệu bên trong và ngoài tế bào, kết quả dẫn đến sự hoạt hóa của hàng loạt tín hiệu đặc trưng.

Mô tạo máu (hematopoietic tissue – HPT) ở động vật giáp xác là một mạng lưới của tiểu thùy nằm ở hai bên lưng và mặt trên của dạ dày, gần động mạch dâu và ở gốc hàm.

Các tế bào máu được tạo ra trong thành của các ống này và giải phóng vào trong các khoang mạch.

HPT của tôm sú và tôm penaeid khác nằm trong các vùng khác nhau của dạ dày, hàm và tuyến râu.

A. Tế bào máu tôm sú chụp dưới kính hiển vi: H (Hyaline cell – Bạch cầu đơn nhân; S (Semigranular cell – bạch cầu bán hạt); L (Large granular cell – Bạch cầu hạt), B.

Mô phỏng các loại tế bào máu ở giáp xác

Các tế bào máu ở họ tôm Penaeid nói chung và ở tôm sú nói riêng có đặc tính sinh học và chức năng tương tự với các đại thực bào, bạch cầu hạt và tế bào giết tự nhiên của động vật có xương sống.

Những tế bào này thực hiện các quá trình thực bào, hình thành thể hạch, thể bao, melanin, hoạt hóa proPO và apoptosis.

Chúng cũng tạo ra các yếu tố dính kết tế bào (agglutinin-lectin system), hệ thống đông máu (hemolymph coagulation system), hệ thống bổ thể (complement system), và peptide kháng khuẩn (AMP).

Các tế bào máu giải phóng các enzyme ức chế cần thiết để điều khiển phân giải nhiều protein, ngăn chặn sự biểu hiện quá nhiều protein và các mô bị phá hủy.

Có ba loại tế bào máu (hemocytes) ở tôm: bạch cầu đơn nhân, bạch cầu hạt và bạch cầu bán hạt (Hình 1).

Các bạch cầu đơn nhân chiếm 5 – 15% tế bào máu lưu thông, là những tế bào nhỏ không khúc xạ, có nhân nhỏ, trong tế bào chất có ít hoặc không có hạt tế bào chất.

Bạch cầu đơn nhân không có hoạt động thực bào và dễ dàng bám vào các bề mặt kính, giống như các đại thực bào ở cá và động vật có vú.

Vai trò chính của các tế bào này có liên quan đến quá trình đông máu và thực bào.

Bạch cầu hạt chiếm 10-20% tế bào máu lưu thông, nhân nhỏ nhất trong số các tế bào máu.

Loại tế bào này có thể bị kích thích bởi β-1,3-glucans, peptidoglycans (PG) và lipopolysaccharides (LPS) để gây nên sự xuất bào (exocytosis) và giải phóng enzyme.

Ngoài ra, trong tế bào chứa lượng lớn hạt tế bào chất (hạt có chiều rộng 0,8uM), các hạt sẽ giải phóng ra các protein bám β-glucan; lipopolysaccharide; peptidoglican, các yếu tố đông máu (transglutaminase), các yếu tố liên quan đến enzyme prophenoloxidase (proPO; ppA; peroxinectin), các chất ức chế proteinase (alpha-macroglobulin; karazl; serpin; pacifastin) và các chất kháng khuẩn (penaeidin; lectin).

Chức năng của chúng là hình thành thể bao, khởi động hệ thống proPO và thực bào.

Các bạch cầu bán hạt chiếm 75% tế bào máu lưu thông, có một số lượng lớn các hạt nhỏ (hạt có chiều rộng 0,4 micromet) giống như bạch cầu hạt ở động vật có xương sống.

Các tế bào này chứa các thụ thể cho β-1,3-glucans và hoạt động chức năng chủ yếu của chúng liên quan đến thực bào, tạo thể bao để bao bọc các vật thể lạ và đông máu. tag: máy quạt nước

1.3. Các quá trình đáp ứng miễn dịch tế bào

Thực bào là cơ chế miễn dịch tế bào chính ở tôm liên quan đến sự thu nhận các vật thể lạ từ bên ngoài.

Cơ chế này được thực hiện bởi bạch cầu bán hạt và bạch cầu hạt.

Quá trình thực bào bao gồm các bước: hướng hóa, bám chặt, tiêu hóa, phá hủy tác nhân gây bệnh và xuất bào.

Nhìn chung, quá trình thực bào ở động vật không xương sống nói chung và tôm nói riêng tương tự như ở động vật có xương sống.

Tuy nhiên, sự tiếp xúc miễn dịch luôn được thực hiện có tính ngẫu nhiên, rất hiếm chủ động theo kiểu hóa hướng động ở động vật có xương sống.

Ngoài ra, bạch cầu bán hạt có khả năng nhận biết các tác nhân xâm nhập và hoạt động như là một sự opsonins hóa kết hợp với hệ thống hoạt hóa proPO.

Các thể hạch phân giải tế bào máu phát hiện trong gan tụy và mang, được hình thành bởi nhiều tế bào máu cùng hoạt động hỗ trợ để bẫy các vi sinh vật hoặc các kháng nguyên lớn mà không thể loại bỏ bởi cơ chế thực bào.

Sau đó, các thể hạch này trải qua sự hoạt hóa của hệ thống proPO, sự melanin hóa và phá hủy vi khuẩn.

Các yếu tố chống oxy hóa bảo vệ tôm khỏi những tác động gây độc tế bào gây ra bởi trao đổi chất tế bào và stress oxy hóa tạo ra bởi sự mất cân bằng của các chất phản ứng ôxy trung gian (reactive oxygen intermediates – ROIs) và chất phản ứng nitơ trung gian (reactive nitrogen intermediates – RNIs).

Để ngăn chặn sự phá hủy này, chiến lược bảo vệ chất chống oxy hóa đã được phát triển bao gồm các enzyme (catalase, glutathione peroxidase (GPX), SOD) và các thành phần khác (ascorbate, β-carotene, flavonoid, α-tocopherol và vitamin E) có thể trung hòa ROIs hoặc sửa chữa sự phá hủy ở mức độ phân tử cho tế bào.

Bằng thực nghiệm Down và đtg (2001) đã đưa ra kế t luậ n các enzyme chống oxy hóa đóng vai trò như các chất điều khiển đáp ứng miễn dịch.

Hoạt động của enzyme superoxide dismutase (SODs) là một trong những cơ chế bảo vệ chính chống lại stress oxy hóa gây ra bởi ô nhiễm, lây nhiễm bệnh, tình trạng thiếu oxy (hypoxia), quá nhiều oxy (hyperoxia), nhiệt độ và các chất kích thích miễn dịch.

Một phân tử SOD ngoại bào (EC-SOD) đã được công bố ở tôm hùm (Homarinus capensis), nó kết hợp với sự thực bào, sự hình thành thể bao, sự opsonin hóa và tạo ra các hợp chất diệt khuẩn.

Tuy nhiên, việc tạo ra các hợp chất oxy hóa có tác dụng kháng khuẩn đã được nghiên cứu trong các tế bào máu ở động vật không xương sống.

Sự đáp ứng tế bào của các chất oxy hóa là rất nhanh và được tạo ra trong suốt quá trình thực bào vi khuẩn.

Những hợp chất này bao gồm anion superoxide (O2-), gốc tự do hydroxyl (OH-), H2O2, ROIs và RNIs.

Bạch cầu hạt tổng hợp, lưu trữ và bài tiết hệ thống prophenoloxydase (proPO) được hoạt hóa bởi β-glucans nấm, PG và LPS.

Các phân tử này cảm ứng bạch cầu hạt tiết proPO không hoạt động và chuyển đổi chúng thành proPO enzyme.

Enzyme này oxy hóa phenol thành quinon, có thể giúp tiêu diệt mầm bệnh và được sử dụng để tạo ra melanin.

Ngoài ra, các protein tương tác với các thành phần trong quá trình proPO có liên quan với sự nhận biết và sự trao đổi của các tế bào máu (Hình 2).

Melanin hóa là một quá trình hóa sinh phức tạp, ít được biết đến, có liên quan tới các protease khác nhau (trypsine như serine, serine protease) có sự tham gia của hệ thống phenoloxidase.

Sự melanin hóa đóng một vai trò quan trọng trong các cơ chế bảo vệ động vật không xương sống, trong đó một bao dày của hắc tố melanin được tạo ra xung quanh tác nhân từ bên ngoài.

Melanin, một sản phẩm của hệ thống proPO, là một sắc tố màu nâu tối với đặc tính kháng khuẩn.

Đặc tính diệt khuẩn của melanin và các tác nhân khác như O2-, các gốc hydroxyl được tạo ra trong quá trình hình thành quinon.

Lectin là một họ glycoprotein hoặc protein có một hoặc nhiều vùng chức năng, nhưng có chung 1 vùng bám carbonhydrat.

Lectin được sắp xếp thành nhiều loại khác nhau.

Chức năng của lectin có thể tham gia vào hàng rào đầu tiên chống lại nguồn bệnh, điều khiển miễn dịch và ngăn chặn sự tự miễn.

Kuhlman và đtg (1989) cho rằng lectin có vai trò như là một protein bổ thể làm tăng quá trình thực bào.

Ở tôm sú, lectin đã được tạo dòng và xác định trình tự.

Apoptosis là một quá trình tế bà o chế t theo chương trình xả y ra ở các cơ thể sinh vật đa bào và được bảo thủ qua tiến hóa.

Nó đóng vai trò quan trọng trong duy trì hoạt động bình thường của nhiều mô và cơ quan ở cơ thể sinh vật đa bào bằng cách loại bỏ các tế bào đã bị phá hủy, đặt không đúng chỗ hoặc trở nên không cần thiết.

Apoptosis đóng vai trò quan trọng trong các quá trình kháng virus ở nhiều sinh vật bằng cách loại bỏ những tế bào nhiễm virus.

Do đó, apoptosis như là một cơ chế đáp ứng miễn dịch tự nhiên để hạn chế sự sinh sản virus và có thể làm giảm hoặc loại bỏ sự lây lan của virus trong cơ thể vật chủ.

Tuy nhiên, nhiều virus đã có các gen mã hóa protein có khả năng ngăn chặn hiệu quả hoặc trì hoãn quá trình apoptosis để sinh sản với số lượng lớn.

Một số virus có gen mã hóa protein có thể ức chế vào các caspase – protein trung tâm trong hoạt động của apoptosis.

Mặt khác, số lượng virus tăng dẫn đến apoptosis hoạt động mạnh.

Quá trình apoptosis có thể hoạt động như là một bước cuối cùng và quan trọng trong sự lây truyền virus đến tế bào lân cận.

Số lượng các phân tử DNA của virus tăng trong tế bào máu dẫn đến hiện tượng apoptosis ở tôm nhiễm WSSV hoặc YHV.

Các caspase là protein trung tâm trong quá trình apoptosis.

Ở tôm thẻ Nhật Bản (Marsupenaeus japonicus) nhiễm WSSV gen caspase bị „im lặng‟, apoptosis bị ức chế đáng kể dẫn đến sự gia tăng các bản sao của WSSV, điều này chỉ ra rằng có thể apoptosis đóng vai trò trong cơ chế kháng virus ở tôm nuôi.

Tỷ lệ các tế bào máu thực hiện apoptosis trong tôm nhiễm WSSV là rất thấp, nhưng cao hơn đáng kể hơn so với tôm càng tiêm WSSV vào ngày 3 hoặc 5 sau nhiễm.

Apoptosis cũng được cho là có vai trò loại bỏ TSV ở tôm trong tự nhiên.

Ở tôm sú, gen mã hóa caspase cũng đã được tạo dòng và xác định trình tự. tag: may quat nuoc

2. Đáp ứng miễn dịch dịch thể

Ngoài chức năng tham gia hoạt động trong sự opsonin hóa, thực bào, ngưng kết và đóng gói tác nhân gây bệnh, các lectin ở động vật không xương sống còn được coi là phân tử nhận biết nguyên thủy có khả năng phát hiện carbohydrate, thúc đẩy hệ thống hoạt hóa proPO.

Các protein nhận biết mô hình (PRP) là lectins đã phát hiện các phân tử như LPS, PG, lipoteichoic acid của vi khuẩn, β-1,3-glucans ở nấm và RNA virus giúp hoạt hóa các cơ chế bảo vệ vật chủ.

Các chức năng sinh học của PRPs là khởi đầu của sự hình thành một loạt các protein hoặc dấu hiệu của cơ chế bảo vệ và loại bỏ những tác nhân xâm nhiễm hệ thống máu.

Khi PRPs phát hiện kháng nguyên, các tế bào máu di chuyển đến vị trí của chúng bằng hướng hóa, tạo ra một phản ứng viêm.

Kết quả là một cơ chế bảo vệ nhanh và hiệu quả chống lại tác nhân gây bệnh.

Thụ thể Toll receptor (TLRs) cũng là một họ PRRs cổ xưa có ở các động vật khác nhau có thể phát hiện tất cả các loại tác nhân gây bệnh.

TLRs được hoạt hóa bởi sự lây nhiễm vi khuẩn và virus và đã được công bố ở tôm thẻ Trung Quốc và tôm thẻ chân trắng.

Ở tôm sú, một số protein được cho rằng có thể đóng vài trò là thụ thể nhận biết mô hình: Rab7, Cyclic AMPregulated protein, kazal-type proteinase.

Quá trình đông máu được sử dụng để ngăn chặn sự mất máu do tổn thương ở vỏ kitin và làm bất động các tác nhân gây bệnh xâm nhập.

Các protein đông máu trong huyết tương hình thành nên dạng polymer cộng hóa trị nhờ transglutaminase phụ thuộc Ca2+ được tiết bởi các tế bào máu.

Các protein đông máu của tế bào có thể được hoạt hóa bởi LPS hoặc β-1,3-glucan và có liên quan đến hệ thống hoạt hóa proPO.

Đáp ứng miễn dịch dịch thể còn có sự tham gia của các phân tử như cytokine có khả năng hoạt hóa các đáp ứng kháng khuẩn; peroxynectin thực hiện chức năng phân tán tế bào máu, thực bào, hình thành thể bao, thể hạch và ngưng kết mà kết quả là sự hoạt hóa peroxide và tiêu hủy tác nhân xâm nhiễm;

Protein sốc nhiệt (heat shock protein -HSP) hoặc chaperonins ở động vật không xương sống có khả năng bảo vệ và phục hồi cấu trúc của protein.

Năm 2004, mối liên hệ giữa các protein sốc nhiệt, stress và các đáp ứng miễn dịch của tôm đã được thực hiện bởi Lo và đtg, nhóm nghiên cứu đã tách dòng và mô tả cDNA của gen HSP70 ở tôm sú.

Phân tử HSP70 gồm 652 amino acid với khối lượng phân tử khoảng 71,4 kDa.

Sự biểu hiện mRNA của HSP70 ở tế bào máu tôm tăng 2 đến 3 lần sau một giờ sốc nhiệt và trở lại trạng thái bình thường sau 30 phút.

Một yếu tố quan trọng chống tác nhân gây bệnh ở động vật không xương sống là các peptide kháng khuẩn (Antimicrobial peptides – AMPs).

Đây là những protein có trọng lượng phân tử thấp, cần thiết ở các cơ thể sinh vật thiếu khả năng miễn dịch thích ứng.

AMPs có phổ hoạt tính rộng, sự đặc hiệu thấp và gây độc yếu đối với tế bào động vật.

Những peptide này tác động lên màng tế bào của vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng, màng bao bọc virus và thậm chí cả tế bào ung thư, gây nên sự bất ổn định của các ion và năng lượng dẫn đến sự hình thành các lỗ trên màng tế bào.

Lysosome là một thành phần tham gia vào quá trình thực bào, trong lysosome có chứa nhiều enzyme gọi chung là lysozyme.

Lysozyme có vai trò làm giảm các polysaccharide ở màng nhày của thành tế bào vi khuẩn Gram (-), thay đổi cấu tạo phân tử của bề mặt tế bào, cho phép các tế bào thực bào dễ dàng nhận biết chúng.

Hầu hết các lysozyme tham gia vào sự phá hủy các vi sinh vật bên trong và bên ngoài tế bào máu, một số còn đóng vai trò của sterases và chitinases.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cau-truc-va-co-che-dap-ung-mien-dich-cua-tom-su-32855.html