Monthly Archives: July 2017

Một Số Nguyên Nhân Mới Gây Bệnh Phân Trắng Trên Tôm

Với mật độ nuôi tăng nhanh, ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, tạo điều kiện cho các mầm bệnh – trong đó có ký sinh trùng phát triển mạnh và phát tán nhanh, làm cho tình hình dịch bệnh diễn biến ngày càng phức tạp và chưa có biện pháp hữu hiệu để kiểm soát.

Một Số Nguyên Nhân Mới Gây Bệnh Phân Trắng Trên Tôm

Trong đó nổi bật nhất là hội chứng phân trắng, xuất hiện ở nhiều vùng nuôi tôm của cả nước, tuy không xảy ra thành dịch lớn, nhưng việc phòng và điều trị bệnh chưa hiệu quả, bệnh hay tái phát.

I. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH

Bệnh phân trắng đã được các nhà khoa học nghiên cứu trong nhiều năm qua. Cho đến nay bệnh được xác định là Hội chứng phân trắng (White Feces Syndrom-WFS) do nhiều tác nhân gây bệnh tác động cộng hợp tạo thành

– Bệnh phân trắng trước đây đã được xác định do: Ký sinh trùng Gregarine kết hợp với Vibrio.

– Bệnh phân trắng hiện nay được nghi ngờ do nhóm vi khuẩn Vibrio: Vibrio vulnificus (80%), Vibrio fluvialis (44%), Vibrio parahaemolyticus (28%), Vibrio alginolyticus (20%), Vibrio damseles (18%), Vibrio minicus (8%) và Vibrio cholera (6%). (Nguồn: Dr.Charlor Limsuwan).

– Ngoài ra bệnh còn được xác định do: Tảo lam, tảo giáp phát triển quá mức, sử dụng thức ăn chất lượng kém, thức ăn bị nhiễm nấm mốc.

Các tác nhân gây bệnh trên kết hợp nhiệt độ nước cao, thả nuôi mật độ dày….gây ra bệnh phân trắng

II. ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH

2.1 Dấu Hiệu

Dấu hiệu nổi bật của bệnh là xuất hiện nhiều dãy phân trắng màu trắng đến hơi vàng trong nhá ăn hoặc nổi trên mặt nước ở cuối góc ao và xuôi theo hướng gió.

Tôm trong các ao này có ruột rỗng và đứt quãng, có các điểm tổn thương ở ruột tạo điều kiện cho vi khuẩn Vibrio xâm nhập gây hoại tử thành ruột, ruột trước sưng, chất chứa trong ruột có màu trắng đến vàng nâu, tôm giảm ăn.

Sau giai đoạn thải phân trắng gan tôm teo lại, ốp vỏ, bơi lờ đờ, tấp bờ.

 

Hình ảnh: Các dãy phân trắng xuất hiện trong nhá ăn

2.2 Điều kiện phát sinh và tác hại của bệnh

Bệnh xảy ra rất phổ biến trên tôm chân trắng

Bệnh xảy ra trên tôm sau thả nuôi 1,5 – 2 tháng

Bệnh xảy ra quanh năm nhưng nặng nề hơn vào mùa nóng

Tỷ lệ sống giảm đến 20 – 30 %

Tôm tăng trưởng chậm chỉ đạt 0,1 g/ngày

FCR tăng 1,7 – 2,5

Sơ đồ: Tác hại của bệnh phân trắng

2.3 Chẩn Đoán Bệnh

Có thể phát hiện bệnh khi thấy xuất hiện của các dây phân trắng trên ao,

Chẩn đoán bệnh dựa vào kiểm tra tiêu bản mẫu phân tươi phát hiện thể vemiform hoặc dùng phương pháp mô bệnh học.

III. PHÒNG BỆNH

3.1 Phòng Bệnh Bằng Quản Lý Cho Ăn

– Sử dụng thức ăn có chất lượng tốt, các thương hiệu có uy tín

– Bảo quản thức ăn tốt, tránh nấm mốc, côn trùng,….

– Tránh dư thừa thức ăn

– Cho ăn đúng cỡ thức ăn

– Khi thấy màu nước ao bắt đầu chuyển xanh đậm hơn phải giảm thức ăn, cho ăn từ 10 – 20%.

Phòng bệnh bằng bổ sung men vi sinh đường ruộtdùng sản phẩm BIO AV, BIOTICBEST, LACTOZYM hoặc VISIDO và men tiêu hóa BIOZYM-S vào thức ăn cho tôm.

Phòng bệnh bằng bổ sung acid hữu cơ đặc biệt SENCID: tác động hiệp lực giữa acid hữu cơ và tinh dầu vào thức ăn có tác dụng làm giảm pH dạ dày ruột giúp

– Tăng cường khả năng tiêu hóa thức ăn

– Ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây thối, vi khuẩn họ đường ruột, Vibrio sp

3.2 Phòng Bệnh Bằng Bổ Sung Dinh Dưỡng, Tăng Cường Sức Đề Kháng, Tăng Hệ Miễn Dịch

– Hepavirol Plus for Shrimp: bổ gan, tăng cường sức khỏe gan tụy

– MUNOMAN: cung cấp beta-glucan tăng hệ miễn dịch, kết dính và đào thải vi khuẩn xâm nhập vào đường ruột

– CALCIPHORUS, C MIX 25%, VILEC 405 FS For Shrimp hoặc SAN ANTI SHOCK: cung cấp khoáng, vitamin tổng hợp.

3.3 Phòng Bệnh Bằng Quản Lý Chất Lượng Nước

– Diệt khuẩn định kỳ: GUARSA hoặc WUNMID

– Xử lý vi sinh định kỳ AQUA BIO BZT hoặc BACPOWER phân hủy chất hữu cơ tích tụ đáy ao.

– Bảo đảm oxy hòa tan > 4,5 ppm: Tăng cường thời gian quạt nước.

– Hằng ngày quan sát tôm phát hiện phân trắng trong ao.

IV. TRỊ BỆNH

Khi thấy bắt đầu có phân trắng trong ao phải tiến hành xác định nguyên nhân và định hướng xử lý ngay.

– Giảm lượng thức ăn cho ăn 30 – 50 %.

– Tăng thời gian quạt nước gấp hai lần so với bình thường.

– Sau đó tùy nguyên nhân mà có hướng điều trị thích hợp.

4.1 Trị Bệnh Phân Trắng Do Gregarine, Vi Khuẩn

Trường hợp bệnh nhẹ

* Xử lý nước bằng diệt khuẩn, xử lý vi sinh

– Sát khuẩn nước bằng sản phẩm Iodine SANDIN 267 hay DOHA, cấy lại vi sinh sau 24 tiếng

– Hoặc sát khuẩn nước bằng WUNMID hay GUARSA và cấy lại vi sinh sau 48 tiếng

Kết hợp bổ sung acid hữu cơ SENCID,vi sinh có lợi đường ruột BIO AV, BIOTICBEST , LACTOZYM hoặc VISIDO

Trường hợp bệnh nặng

* Xử lý nước bằng diệt khuẩn, xử lý vi sinh

– Sát khuẩn nước bằng sản phẩm Iodine SANDIN 267 hoặc DOHA, cấy lại vi sinh sau 24 tiếng

– Hoặc sát khuẩn nước bằng WUNMID hoặc GUARSA và cấy lại vi sinh sau 48 tiếng

* Kết hợp trộnkháng sinh vàothức ăn: RADOSOVER EMS, TRASOL LA, ANTI-S Liquid, TRIMDOX (bột, nước) hoặcHILORO vào cử ăn mạnh nhất trong ngày, cho ăn liên tục 5 – 7 ngày.

Trộn cho ăn vi sinh có lợi đường ruột: Sử dụng BIO AV, BIOTICBEST, LACTOZYM hoặc VISIDO.

4.2 Trị Bệnh Phân Trắng Do Tảo

Kết hợp diệt tảo trong ao và tăng cường sức khỏe đường ruột cho tôm

Diệt tảo lam

Xử lý tảo lam bằng hóa chất

– Ngày thứ 1: Dùng ALGAE RV kết hợp với vôi nóng để diệt tảo

Sau đó sử dụng ZEOLITE hoặc TOXINPOND+ keo tụ chất vẩn, nhớt nước, xác tảo.

– Ngày thứ 2: Dùng AQUA BIO BZT hoặc BACPOWER phân hủy xác tảo.

* Xử lý tảo lam bằng vi sinh

Sử dụng AQUA BIO BZT hoặc BACPOWER kết hợp dùng vôi nóng. Sử dụng lại lần 2 sau 2 ngày đến khi hết tảo lam.

Diệt tảo giáp

* Ao có thể thay nước

– Diệt tảo trong ao lắng bằng GUARSA hoặc BKC++8000

– Thay nước đã xử lý vào ao nuôi đến nước sạch trở lại và độ mặn hạ xuống 10 – 15‰.

– Sử dụng AQUA BIO BZT hoặc BACPOWER cung cấp vi sinh có lợi cạnh tranh thức ăn của tảo làm giảm mật độ tảo.

* Ao không thay nước được

– Ngày thứ 1: Dùng ALGAE RV kết hợp với vôi nóng để diệt tảo.

– Sau đó sử dụng ZEOLITE hoặc TOXINPOND+ keo tụ chất vẩn, nhớt nước, xác tảo.

– Ngày thứ 2: Dùng AQUA BIO BZT hoặc BACPOWER phân hủy xác tảo.

– Tăng cường sức khỏe đường ruột.

– Bổ sung men vi sinh đường ruột BIO AVBIOTICBEST, LACTOZYM hoặc VISIDOvào thức ăn.

4.3 Trị Bệnh Phân Trắng Do Thức Ăn Chất Lượng Kém, Nấm Mốc

– Kiểm tra lại chất lượng thức ăn.

– Sử dụng thức ăn có chất lượng tốt nhưng giảm lượng ăn.

– Tăng cường sức khỏe đường ruột bằng BIO AV, BIOTICBEST, LACTOZYM, hoặc VISIDO  BIOZYM-S.

– Bổ sung acid hữu cơ SENCID để ngăn chặn nấm mốc.

* LƯU Ý: Sau khi thấy hết phân trắng

– Cho ăn Hepavirol Plus hoặc SANSORIN+B12 giúp đào thải kháng sinh và cải thiện chức năng gan cho tôm.

– Bổ sung khoáng chất, vitamin,… bằng CALCIPHORUS, C MIX 25%, VILEC 405 FS For Shrimp, BIOTICBEST tăng cường sức khỏe, giúp tôm hồi phục nhanh.

– Định kỳ bổ sung BIO AV, BIOTICBEST, LACTOZYM hoặc VISIDO vào thức ăn để duy trì vi sinh có lợi đường ruột cho tôm.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/mot-so-nguyen-nhan-moi-gay-benh-phan-trang-tren-tom-36671.html

Độc tính của amoniac làm suy giảm sức khỏe và mức tăng trưởng của động vật

Tóm tắt: Nitơ amoniac xuất hiện trong các hệ thống nuôi trồng thủy sản là chất thải của quá trình chuyển hóa protein bởi động vật thủy sản và quá trình suy thoái các chất hữu cơ, hoặc trong phân bón nitơ.

Tiếp xúc với chất khí này có thể làm giảm sức tăng trưởng và tăng nguy cơ mắc bệnh ở các loài thủy sản.

Nồng độ nitơ amoniac thay đổi theo thời gian trong ngày, độ sâu của nước và nhiệt độ, tăng lên khi sinh khối và thức ăn tăng. Cách quản lý tốt nhất là thận trọng trong mật độ thả nuôi và tỷ lệ cho ăn nhằm giảm thiểu nitơ amoniac và tránh thực vật phù du phát triển quá mức gây ra pH cao.

Tiến sĩ Claude E. Boyd

Khoa Thủy sản và liên minh nuôi trồng thủy sản, Đại học Auburn – Auburn, Alabama 36849 USA

Nồng độ NH3-N là 0,45 mg/L làm giảm sức tăng trưởng của năm loài tôm penaeid khoảng 50%.

Nitơ amoniac bao gồm amoniac không ion hóa (NH3) và ion amonium (NH4+) xuất hiện trong nước của các hệ thống sản xuất nuôi trồng thủy sản là chất thải của quá trình chuyển hóa protein bởi động vật thủy sản và quá trình suy thoái các chất hữu cơ bởi vi khuẩn và các vi sinh vật khác. Nitơ ammoniac cũng có trong các ao ở phân đạm như amonium sulfat, amonium phốt phát và urê thủy phân sinh ra nitơ amoniac.

Tỷ lệ nitơ ammoniac tồn tại ở dạng NH3 tăng theo nhiệt độ nước và đặc biệt là pH tăng (Bảng 1). Độ mặn làm giảm tỷ lệ NH3 khi ở một nhiệt độ và pH nhất định, nhưng hiệu quả không cao. Ví dụ, ở pH 8 và 25°C, phần nitơ ammoniac không ion hóa (NH3-N) trong nitơ amoniac ở các độ mặn khác nhau như sau: nước ngọt, 4,90 %; độ mặn 5 ppt, 4,93 %; 10 ppt, 4,78 %; 15 ppt, 4,63%; 20 ppt, 4,48%; 25 ppt, 4,34 %; 30 ppt, 4,20 %; 35 ppt, 4,07 %.

Bảng 1. Phân số thập phân của nitơ amoniac tồn tại ở dạng ammoniac không ion hóa ở các giá trị pH và nhiệt độ nước khác nhau.

Nhiệt độ (°C)

pH

16

18

20

22

24

26

28

30

32

7.2

7.6

8.0

8.4

8.8

9.2

0.004

0.011

0.028

0.069

0.157

0.319

0.005

0.013

0.033

0.079

0.178

0.352

0.006

0.015

0.038

0.090

0.200

0.386

0.007

0.017

0.043

0.103

0.223

0.420

0.008

0.020

0.049

0.117

0.248

0.454

0.009

0.023

0.057

0.132

0.276

0.489

0.011

0.027

0.065

0.149

0.306

0.526

0.012

0.031

0.075

0.169

0.339

0.563

0.015

0.036

0.087

0.194

0.377

0.603

Đa phần chất thải nitơ ở động vật thủy sinh được vận chuyển trong máu đến mang, ở đó nó khuếch tán vào trong nước dưới dạng NH3. Khi nồng độ NH3 thấp trong nước xung quanh thì có độ chênh lệch nồng độ cao tạo điều kiện mất đi amoniac từ máu động vật vào trong nước.

Khi NH3 tăng trong nước làm giảm đi độ chênh lệch, dẫn đến nồng độ NH3 trong máu cao hơn và đưa đến hậu quả sinh lý bất lợi mà có thể gây chết nếu nồng độ NH3 vượt quá mức.

Độc tính của nitơ amoniac

Độc tính của nitơ ammoniac đối với động vật thủy sinh gần như hoàn toàn là do NH3, vì NH4+ tương đối không độc. Như vậy, độc tính của NH3 phụ thuộc nhiều vào pH và nhiều khả năng trong nước khi pH trên 8. Tất nhiên trong ao nuôi, pH nước thường dao động hàng ngày có các giá trị thấp nhất vào những giờ sáng sớm và các giá trị cao nhất vào buổi chiều.

Ở nước độ kiềm thấp với độ đệm yếu có mức thực vật phù du nở hoa dày và ở trong nước độ kiềm cao thì pH có thể cao suốt cả ngày.

Đã có rất nhiều nghiên cứu về độc tính amoniac đối với các loài thủy sản nuôi ở điều kiện có kiểm soát trong phòng thí nghiệm.

Các số liệu về độc tính được báo cáo phổ biến là nồng độ amoniac (NH3-N) gây chết 50% sinh vật thí nghiệm (LC50). Thời gian thí nghiệm có khác nhau, nhưng nhiều thí nghiệm trong 96 giờ.

LC50 96 giờ điển hình được tìm thấy trong tài liệu trình bày ở Bảng 2 đối với một số loài thủy sản.

LC50 với NH3 điển hình thấp hơn 1,0 mg/L đối với các loài nước lạnh và 1,0 – 3,0 mg/L đối với các loài nước ấm.

Bảng 2. Ví dụ thí nghiệm LC50 96 giờ của NH3-N trên các loài thủy sản phổ biến.

Loài

96-giờ LC50

Nước ngọt

Cá da trơnCá rô phi

Cá hồi vân

Cá hồi Cutthroat trout

Cá Fathead minnows

Tôm nước ngọt

0,74-3,10

2,88

0,32-0,93

0,50-0,80

0,20-3,4

2,00-2,50

Nước biển

Cá vược sọcCá hồi biển đốm

Tôm trắng miền Nam

Tôm thẻ chân trắng

Tôm sú

Tôm xanh oliu

0,64-1,10

1,72

0,69-1,20

1,20-2,95

1,04-1,69

1,39

Không có sự khác biệt nhiều trong phạm vi LC50 96 giờ đối với các loài nước ngọt và nước biển. Một số sự khác nhau được báo cáo về LC50 là do sự khác biệt loài có nhạy cảm với amoniac. Tuy nhiên, phần lớn sự khác nhau là do các điều kiện khác nhau trong các thí nghiệm độc tính – đặc biệt là nhiệt độ nước, pH và độ mặn.

Một nghiên cứu trên cá hồi vân đã báo cáo LC50 là 0,32-0,66 mg/L ở nhiệt độ 10 – 13 °C, nhưng ở 16 – 19 °C thì LC50 là 0,86 – 0,93 mg/L đã cho thấy NH3 độc hơn khi ở nhiệt độ thấp hơn. Điều này có hơi bất thường, bởi vì LC50 của nhiều loại độc tố giảm khi nhiệt độ nước tăng, cho thấy độc tính cao hơn trong nước ấm.

pH không chỉ quan trọng trong việc xác định tỷ lệ phần trăm của nitơ amoniac ở dạng NH3 mà còn ảnh hưởng đến độc tính của NH3. Trong một nghiên cứu về cá da trơn, LC50 ở pH 6,0 là 0,74 mg/L, nhưng ở pH 8,8 là 1,91 mg/L. Trong cá hồi vân, LC50 tăng từ 0,13 mg/L ở pH 6,5 đến 0,66 mg/L ở pH 8,9. Mặc dù tỷ lệ NH3 thấp hơn ở pH thấp hơn nhưng NH3 độc hơn ở pH thấp hơn.

Tăng độ mặn làm giảm độc tính NH3. Ở tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương, LC50 tăng từ 1,2 mg/L ở độ mặn 15 ppt lên 1,6 mg/L ở độ mặn 35 ppt. Các kết quả tương tự đã được báo cáo ở các loài tôm và cá khác.

Ảnh hưởng của nồng độ oxy hòa tan đến độc tính NH3 không rõ ràng. Một nghiên cứu đã không tìm thấy tác động nào, nhưng một nghiên cứu khác cho thấy NH3 độc hơn với tôm sú khi nồng độ oxy hòa tan là 2,3 mg/L so với 5,7 mg/L.

Tác động dưới mức gây chết

Trong nuôi trồng thủy sản, các nhà sản xuất thường quan tâm nhiều hơn đến các tác động của một chất độc dưới mức gây chết hơn là tác dụng gây chết 50% (LC50). Một số nghiên cứu đã cho thấy tiếp xúc thường xuyên với NH3 sinh ra những thay đổi sinh lý, gây tổn thương mang, giảm sức tăng trưởng và dễ nhiễm bệnh hơn.

Một nghiên cứu với cá da trơn cho thấy mức tăng trưởng đã giảm thẳng trong khoảng nồng độ NH3-N là 0,048 – 0,989 mg/L.

Mức tăng trưởng giảm 50% khi ở 0,517 mg/L và không tăng trưởng khi ở nồng độ cao nhất. Mức tăng trưởng cá rô phi cũng cho thấy giảm dần khi nồng độ NH3-N trên 0,068 mg/L.

Trong các nghiên cứu, mức tăng trưởng của cá rô phi giảm dần khi nồng độ NH3-N trên 0,068 mg/L.

Nồng độ NH3-N là 0,45 mg/L làm giảm sức tăng trưởng của mỗi năm loài tôm penaeid khoảng 50%. Cá hồi vân tiếp xúc liên tục với nồng độ NH3-N lên đến 0,073 mg/L không cho thấy giảm tăng trưởng, nhưng các tổn thương mô bệnh học đã được ghi nhận ở mức 0,04 mg/L  và gia tăng nhiễm protozoa khi trên 0,02 mg/L.

Hầu hết các nghiên cứu độc tính đã được thực hiện ở nồng độ NH3-N tương đối ổn định.

Trong các hệ thống nuôi và đặc biệt trong các ao, nồng độ NH3-N thay đổi theo thời gian trong ngày và độ sâu.

Ví dụ, trong một ao nước ngọt, pH có thể là 7,4 vào sáng sớm, khi nhiệt độ nước là 26 °C và pH là 8,8 vào buổi chiều, khi nhiệt độ nước là 28 °C. Ở nồng độ nitơ amoniac là 1,0 mg/L , nồng độ NH3-N vào buổi sáng sẽ là 0,015 mg/L, nhưng vào buổi chiều sẽ là 0,306 mg / L – cao hơn 20 lần.

Tuy nhiên, biến động hàng ngày của NH3-N lên đến 0,37 mg/L xảy ra trong ao không gây ra mức suy giảm tăng trưởng có thể đo được trên cá rô phi. Các tác giả của nghiên cứu đó đã kết luận rằng tiếp xúc với nồng độ amoniac dưới mức gây chết có thể có tác động rất ít đến sức tăng trưởng của cá.

Tôm / cá sớm tiếp xúc với nồng độ NH3 dưới mức gây chết ít bị ảnh hưởng bởi nồng độ nitơ NH3 cao so với tôm / cá chưa tiếp xúc trước đó. Nồng độ nitơ amoniac có xu hướng tăng theo thời gian trong các hệ thống nuôi khi sinh khối và thức ăn đầu vào tăng. Điều này có thể giúp cho các loài nuôi thích nghi với nồng độ nitơ amoniac cao hơn.

Nồng độ an toàn

Nồng độ an toàn khi tiếp xúc lâu dài với NH3-N và nhiều độc tố phổ biến khác thường được ước tính bằng cách nhân 0,1 hoặc 0,05 lần với 96 giờ LC50. Lấy 0,05 làm hệ số thì nồng độ NH3-N an toàn sẽ nằm trong khoảng 0,015 – 0,045 mg/L đối với các loài nước lạnh và 0,050 – 0,150 mg/L với các loài nước ấm.

Do sự khác nhau nhiều về nồng độ NH3-N, pH và nhiệt độ nước theo thời gian, tuy nhiên, việc tính toán này nên được cân nhắc làm hướng dẫn chung hơn là các giá trị tuyệt đối. Thường xuyên lập lại theo dõi NH3-N trong các hệ thống nuôi – đặc biệt trong các ao – do đó là không cần thiết.

Ngoài ra, không có phương pháp chắc chắn cho việc giảm nitơ amoniac khi thiếu áp dụng một tỷ lệ thay nước cao để chuyển ammoniac ra khỏi ao nuôi hoặc giảm thức ăn đầu vào và năng suất sau đó. Cách làm phổ biến khi đưa chủng vi khuẩn nitrat hóa hoặc sử dụng zeolite có thể có giá trị hạn chế, vì vậy có lẽ phương pháp tốt nhất để quản lý nitơ amoniac là thận trọng trong mật độ thả nuôi và giảm tỉ lệ cho ăn nhằm giảm thiểu NH3-N đầu vào và tránh thực vật phù du nở hoa quá mức gây ra pH cao.

Nên cung cấp sục khí đầy đủ để tránh mức oxy hòa tan thấp và gia tăng quá trình oxy hóa nitơ amoniac thành nitrat nhờ vi khuẩn nitrat hóa. Khuấy động bề mặt nước bằng cách sục khí cũng thúc đẩy NH3 khuếch tán vào không khí. Đáy ao nên được phơi khô giữa các vụ và nên rải vôi đất axit để kích thích quá trình oxy hóa các chất hữu cơ giữa các vụ nhằm giảm nitơ amoniac giải phóng thẳng vào nước trong vụ nuôi.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/doc-tinh-cua-amoniac-lam-suy-giam-suc-khoe-va-muc-tang-truong-cua-dong-vat-36678.html

Chế độ cho ăn bổ sung tế bào vi khuẩn probiotic (Bacillus coagulans) có lợi cho tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei

Hai nhóm thực nghiệm (T-1 và T-2) và một nhóm đối chứng, mỗi nhóm được lập lại 3 lần.

Chế độ cho ăn bổ sung tế bào vi khuẩn probiotic (Bacillus coagulans) có lợi cho tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei

Tôm ở nhóm đối chứng được cho ăn theo chế độ cơ bản và hai nhóm T-1 và T-2 được cho ăn bổ sung thêm các tế bào vi khuẩn có lợi probiotic sống và chết vào chế độ ăn tương ứng.

Sau 50 ngày nuôi, việc bổ sung vi khuẩn có lợi probiotic (men vi sinh, men tiêu hóa ) vào chế độ ăn đã mang lại trọng lượng cuối cùng, mức tăng trọng hàng ngày và tỷ lệ sống cao hơn (P < 0,05). Đối với hiệu suất tăng trưởng, các giá trị cao nhất (P < 0,05) được nhận thấy ở nhóm T-1.

Các hoạt động của protease, amylase, lipase (P < 0,05) ở nhóm T-1 cũng được nhận thấy cao hơn so với nhóm T-2 và đối chứng. Không có khác biệt đáng kể xuất hiện ở thành phần cơ gồm độ ẩm, protein thô và tro.

Tuy nhiên, nhóm cho ăn men vi sinh probiotic sống (P < 0,05) cho thấy thành phần chất béo thô của cơ cao hơn so với nhóm đối chứng.

Ngoài ra, hàm lượng axit inosinic (P < 0,05) được quan sát thấy ở nhóm T-1 cao hơn. Kết quả của chúng tôi cho thấy chế độ ăn bổ sung vi khuẩn có lợi sống và chết, đặc biệt là men vi sinh sống có thể cải thiện tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm thẻ chân trắng.

Hiệu suất tăng trưởng và tỷ lệ sống

Không có khác biệt đáng kể (P > 0,05) về trọng lượng ban đầu của tôm thẻ chân trắng trong các nhóm thực nghiệm và đối chứng. Tuy nhiên, việc thực hiện chế độ ăn bổ sung men vi sinh probiotic sống trong 50 ngày nuôi mang lại trọng lượng tôm cuối cùng và mức tăng trọng hàng ngày cao hơn đáng kể (P < 0,05) so với nhóm bổ sung vi khuẩn có lợi probiotic chết (P < 0,05) và cao hơn các nhóm đối chứng.

Về tỷ lệ sống, các nhóm bổ sung  probiotic cũng cho thấy giá trị cao hơn đáng kể (P < 0,05) so với nhóm đối chứng. Tuy nhiên, không có khác biệt đáng kể về tỷ lệ sống giữa nhóm T-1 và T-2 (87,11 [+ hoặc – ] 3,42 % và 82,22 [+ hoặc -] 1,39 % tương ứng).

Các enzyme tiêu hóa

Hoạt động của 3 loại enzyme ở nhóm tôm cho ăn các tế bào vi khuẩn có lợi probiotic sống (T-1) được nhận thấy cao hơn đáng kể (P < 0,05) so với nhóm cho ăn các tế bào vi khuẩn có lợi probiotic chết (T-2) và nhóm không bổ sung các tế bào vi khuẩn có lợi probiotic (đối chứng). Tuy nhiên, nhận thấy không có khác biệt đáng kể (P > 0,05) trong các hoạt động của protease, amylase, lipase ở nhóm T-2 so với nhóm tôm đối chứng.

Chất lượng thịt

Nhóm cho ăn bổ sung tế bào vi khuẩn có lợi probiotic sống có thành phần chất béo thô trong cơ cao hơn đáng kể hơn so với nhóm đối chứng (P < 0,05). Tuy nhiên, không có khác biệt đáng kể (P > 0,05) trong thành phần chất béo thô giữa nhóm T-1 và T-2 (tương ứng là 1,94 [+ hoặc -] 0,12% và 2,15 [+ hoặc -] 0,12%).

Ngoài ra, không nhận thấy có khác biệt đáng kể (P <0,05) trong thành phần sinh hóa cơ giữa tôm thẻ chân trắng cho ăn bổ sung các tế bào vi khuẩn có lợi probiotic chết và không có các tế bào vi khuẩn có lợi probiotic. Không có khác biệt đáng kể (P < 0,05) ở tất cả các nhóm về các thành phần cơ gồm độ ẩm, protein thô và tro.

Nói chung, chế độ ăn bổ sung men vi sinh probiotic sống và chết của loài Bacillus coagulans có vẻ là quy trình đầy hứa hẹn để cải thiện hiệu suất tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm thẻ chân trắng L. vannamei.

Ngoài ra, các tác dụng của probiotic (men vi sinh, men tiêu hóa) có khác nhau tùy theo dạng probiotic và nhận thấy các giá trị ở nhóm tôm cho ăn bổ sung các tế bào vi khuẩn probiotic sống có kết quả tốt hơn.

Cần có nghiên cứu tiếp theo để hoàn toàn hiểu hơn cơ chế chức năng của các tế bào vi khuẩn có lợi probiotic sống và chết hoạt động như thế nào trong đường tiêu hóa của tôm.

Yanbo Wang1, Linglin Fu1 and Junda Lin2

1 Trung tâm Tài nguyên Biển và Nghiên cứu Sinh học Dinh dưỡng, Khoa Chất lượng và An toàn Thực phẩm Cục, Đại học Chiết Giang Gongshang, 149, Jiaogong Road, Hàng Châu 310035, Trung Quốc

2 Khoa Khoa học Sinh học, Viện Công nghệ Florida, 150 W. Đại học Blvd., Melbourne, FL 32901

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/che-do-cho-an-bo-sung-te-bao-vi-khuan-probiotic-bacillus-coagulans-co-loi-cho-tom-the-chan-trang-litopenaeus-vannamei-36687.html

Ương tôm giống trong nhà, giảm tỉ lệ mắc bệnh, cải thiện tỉ lệ sống

Điều này phụ thuộc nhiều vào sự an toàn sinh học của chính các trại ương tôm giống.

Ương tôm giống trong nhà, giảm tỉ lệ mắc bệnh, cải thiện tỉ lệ sống

Theo một số chuyên gia của Bộ phận Nghề cá và Hiệp hội Nuôi trồng thủy sản Hoa Kỳ, việc sử dụng các trại ương trong nhà là một bước cải tiến quan trọng, làm tăng chất lượng tôm giống so với dây chuyền sản xuất giống tại ao.

Hệ thống ao sản xuất giống ngoài trời có nhiều mối nguy do tôm tiếp xúc trực tiếp với môi trường thiên nhiên.

Ở Mỹ, rất khó kiểm soát các hoạt động của loài chim ăn tôm – vốn là tác nhân lây truyền dịch bệnh từ ao này sang ao khác trong cùng một khu vực ương tôm giống.

Việc ương tôm ngoài trời cũng khiến người nuôi khó kiểm soát các yếu tố như sự biến đổi chất lượng nước trong quá trình sản xuất giống.

Song song với đó là việc xử l‎í một khối lượng lớn nước dùng để ương tôm lại không dễ dàng. Tất cả những điều này sẽ nhanh chóng được giải quyết khi sử dụng hệ thống nuôi thâm canh tuần hoàn trong nhà.

Ưu điểm của trại ương tôm trong nhà

Các trại sản xuất có thể tạo ra đàn giống với mật độ rất cao, vì vậy, lượng nước dùng để ương giống không nhiều (đỡ cho khâu xử lí nước làm giảm nguy cơ xâm nhập dịch bệnh), diện tích bề mặt của toàn bộ hệ thống ương cũng không lớn.

Bên cạnh đó, việc sử dụng trại ương có mái che theo từng giai đoạn của quá trình ương tôm giống cũng mang lại nhiều ưu điểm so với các hệ thống sản xuất chỉ với một giai đoạn duy nhất.

Hệ thống ương tôm trong nhà ngoài việc cho phép ương với mật độ cao, con giống có sức đề kháng tốt, giảm tỉ lệ mắc bệnh, tỉ lệ sống được cải thiện rõ rệt.

Do tôm giống có sức bật tốt nên khi tiến hành nuôi thương phẩm thì thời gian nuôi sẽ được rút ngắn lại.

Trong cả quá trình nuôi thương phẩm, dễ thấy những con giống từng được ương trong nhà có khả năng kháng bệnh cao hơn, có thể chống chọi tốt với những bệnh dịch phổ biến (gây ảnh hưởng đến nghề nuôi).

Ngoài ra, hệ thống ương trong nhà sử dụng không gian và các nguồn lực hiệu quả hơn, cần ít đất và nước hơn so với ao ương truyền thống.

Hệ thống còn đáp ứng các yêu cầu về an toàn sinh học (nhất là vào những thời điểm dịch bệnh bùng phát). Hệ thống ương tôm trong nhà giúp kiểm soát được nguồn tôm đầu vào, bảo vệ chống lại những loài địch hại, đồng thời giúp quan sát tốt hơn lượng thức ăn tiêu thụ, tốc độ tăng trưởng và chất lượng nước…

Đặc biệt, hệ thống ương tôm giống khép kín giúp việc kiểm soát nhiệt độ và độ mặn được thực hiện dễ dàng hơn.

Hệ thống sản xuất trong nhà mang lại nhiều thuận lợi cho người ương tôm giống nhưng đi kèm với nó là một số bất lợi nhất định liên quan đến cấu trúc và vận hành hệ thống trại ương thâm canh mật độ cao sử dụng kỹ thuật nuôi tuần hoàn khép kín (để vận hành hệ thống đòi hỏi một đội ngũ chuyên gia kỹ thuật cao hoặc công nhân có những kỹ năng đặc biệt hơn so với khi quản lí các ao thông thường);

Chi phí xây dựng và điều kiện vận hành các phương tiện kỹ thuật làm tăng giá thành tôm giống.

Vì hệ thống nuôi có mái che mang lại hiệu quả kinh tế khi nuôi thâm canh với mật độ cao, điều này lại làm tăng các vấn đề cần xử lí trên tôm giống – nếu người sử lí không có đủ kinh nghiệm thì chính mật độ cao sẽ gây ra các ảnh hưởng tiêu cực liên quan đến sức khỏe và tỉ lệ sống của tôm.

Tuy nhiên, không thể phủ nhận kỹ thuật ương tôm giống trong nhà giúp làm tăng năng suất ương giống và tăng năng suất nuôi thương phẩm sau đó.

Vì vậy, các trại nuôi tôm có thể cân nhắc sử dụng hình thức ương tôm này.

Các thử nghiệm được thực hiện tại Texas (Hoa Kỳ) bởi Tiến sĩ Tzachi Samocha (thuộc Đại học A&M Texas) cho thấy, hệ thống vận hành hiệu quả với sản lượng tôm giống cao và tỉ lệ sống đạt trên 80% khi ương tôm thẻ trong hệ thống tuần hoàn khép kín này, mật độ tôm giống là 10-40 con/lít (tương đương với 40.000 con/m3).

Hiện hệ thống đang được nhiều quốc gia sử dụng, đặc biệt là tại khu vực nhiễm dịch bệnh do vi rút.

Cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp nuôi tôm, dự đoán trong tương lai, hệ thống ương tôm giống trong nhà sẽ ngày càng được sử dụng nhiều hơn.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/uong-tom-giong-trong-nha-giam-ti-le-mac-benh-cai-thien-ti-le-song-36693.html

Ứng dụng công nghệ sinh học trong nuôi trồng thủy sản

Một trong những lựa chọn hiệu quả đó là sử dụng chế phẩm sinh học (men vi sinh, men tiêu hóa) trong quá trình nuôi.  

Chế phẩm sinh học là sản phẩm có chứa vi sinh vật sống nhằm mục đích cải thiện môi trường và vật nuôi.

Ứng dụng công nghệ sinh học trong nuôi trồng thủy sản

Trong nuôi thủy sản, sử dụng chế phẩm sinh học (còn gọi là men vi sinh) nhằm mục đích cải thiện môi trường (nước và nền đáy ao), tăng sức khỏe vật nuôi, tăng khả năng hấp thu thức ăn… góp phần tăng năng suất và sản lượng.

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại chế phẩm sinh học được sử dụng với các mục đích khác nhau dựa trên đặc tính của từng loại. Có thể thấy các lợi ích to lớn của chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản:

– Phân hủy các chất hữu cơ trong nước, hấp thu xác tảo chết và làm giảm lớp bùn ở đáy ao.

– Giảm các độc tố trong môi trường nước do các chất khí: NH3, H2S… phát sinh, do đó giảm mùi hôi trong nước, giúp tôm cá phát triển tốt.

–  Nâng cao khả năng miễn dịch của động vật thủy sản.

– Ức chế sự hoạt động và phát triển của các vi khuẩn có hại do quá trình tăng sinh làm cho số lượng vi khuẩn có lợi tăng lên lấn át và kìm hảm hãm sự phát triển của các vi khuẩn gây hại, do đó hạn chế mầm bệnh phát triển.

Cần bổ xung chế phẩm sinh học định kỳ vào ao nuôi nhằm đảm bảo vi khuẩn có lợi tồn tại trong ao với số lượng lớn và để phòng bệnh cho động vật thủy sản.

– Ổn định pH của nước, ổn định màu nước do chế phẩm sinh học hấp thu chất dinh dưỡng hòa tan trong nước hạn chế tảo phát triển nhiều, giảm chi phí xử lý nước trong quá trình nuôi, tăng oxy hòa tan trong nước giúp động vật thủy sản khỏe mạnh và phát triển.

– Khi trộn chế phẩm sinh học (men vi sinh, men tiêu hóa) vào thức ăn có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa, giúp hấp thu tốt thức ăn, làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn (giảm hệ số thức ăn), thúc đẩy tăng trưởng.

Sử dụng men vi sinh trong nuôi trồng thủy sản còn có tác dụng hạn chế việc sử dụng hóa chất bừa bãi, gây tác động xấu đến môi trường sinh thái và ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.

Chính vì thế trong những năm qua, thành phố Hà Nội đã xây dựng các mô hình nuôi trồng thủy sản sử dụng chế phẩm sinh học, điều này góp phần làm thay đổi nhận thức của người dân và từng bước tạo ra những mô hình nuôi sạch, an toàn và bền vững.

Tags: nuoi tom, nuoi trong thuy san, thuy san, con tom, nuoi tom, ao nuoi tom, quan li trong nuoi tom, men vi sinh, che pham sinh hoc

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/ung-dung-cong-nghe-sinh-hoc-trong-nuoi-trong-thuy-san-36700.html

Hydrogen Sulfide độc nhưng có thể quản lý được

Các cách thực hành chính để giảm thiểu nguy cơ độc tính của hydrogen sulfide là cho ăn thận trọng để tránh thức ăn bị lãng phí ở đáy ao, sục khí nhiều để tránh mức oxy hòa tan thấp và tạo một dòng nước chảy có thêm oxy ngang qua bề mặt phân giới giữa đất và nước, bón vôi để ngăn chặn chất lắng đọng và nước có tính axit.

Hydrogen Sulfide độc nhưng có thể quản lý được

Tiến sĩ Claude E. Boyd, Khoa Thủy sản và Liên minh nuôi trồng thủy sản

Đại học Auburn, Auburn, Alabama 36849 USA

Hydrogen sulfide sinh ra ở lớp đất trầm tích chủ yếu là do các vi sinh vật khử sulfate, có thể khuếch tán vào lớp nước mặt bên trên và trong cột nước.

Lưu huỳnh là một nguyên tố thiết yếu cho thực vật, động vật và vi khuẩn, có ở các vùng nước tự nhiên và nước trong các hệ thống nuôi trồng thủy sản, chủ yếu ở dạng ion sunfate.

Ở các khu vực ẩm ướt, nồng độ sunfate trong nước thường là 5-50 mg/L, nhưng trong vùng khô hạn, nồng độ thường vượt quá 100 mg/L.

Nước biển chứa trung bình 2.700 mg/L sulfate. Dù hiếm khi sử dụng sulfate cho các hệ thống nuôi trồng thủy sản đặc biệt để tăng nồng độ môi trường xung quanh, nhưng nó có trong thức ăn và một số cách cải thiện chất lượng nước.

Các vấn đề trong nuôi trồng thủy sản

Vấn đề chính liên quan đến lưu huỳnh trong nuôi trồng thủy sản là thường xuyên có nồng độ độc hydrogen sulfide.

Sulfide có thể xuất hiện trong nước bởi vì nó là chất chuyển hóa của Desulfovibrio (vi khuẩn khử sulfate) và vài loài vi khuẩn khác được tìm thấy ở các vùng kỵ khí – thường là ở đất trầm tích.

Các loài vi khuẩn này sử dụng oxy từ sulfate như một sự thay thế oxy phân tử trong quá trình hô hấp.

Có ba dạng của sulfide (H2S, HS- và S2-) và chúng tồn tại ở một mức cân bằng tùy thuộc nhiệt độ và pH. Ảnh hưởng của pH lên sự phân bố của ba dạng này khi ở nhiệt độ 25 °C được thể hiện trong Hình 1.

Khi pH tăng lên, tỷ lệ hydrogen sulfide giảm và như thế HS- tăng cho đến khi hai dạng này có tỷ lệ xấp xỉ bằng nhau ở pH 7. Ở pH cao hơn, HS là dạng trội hơn và không có dạng S2- cho đến khi pH trên 11.

Hydrogen sulfide có tính độc đối với động vật thủy sản bởi vì nó cản trở quá trình tái oxy hóa của cytochrome a3 trong quá trình hô hấp.

Tác động này gần như hoàn toàn là do H2S gây ra, trong khi đó về bản chất HS- là không độc. Ngay cả khi độc thì S2- không phải là vấn đề, bởi vì nó không xuất hiện ở các giá trị pH được nhận thấy trong các hệ thống nuôi trồng thủy sản.

Nồng độ Hydrogen Sulfide

Nồng độ hydrogen sulfide phải được ước tính từ tổng nồng độ sulfide, bởi vì các phương pháp để xác định sulfide trong nước điển hình đều đo tổng nồng độ của ba dạng sulfide.

Tỷ lệ H2S ở các giá trị pH và nhiệt độ khác nhau đưa ra trong Bảng 1 có thể được sử dụng để ước tính nồng độ hydrogen sulfide.

Để minh họa, giả sử pH là 7,5 ở 26 °C trong nước ngọt với nồng độ sulfide 0,5 mg/L. Hệ số đối với các điều kiện này là 0,238. Nhân hệ số với nồng độ sulfide 0,5 mg/L ra nồng độ H2S là 0,119 mg/L.

Trong nước biển có cùng nhiệt độ và pH, nồng độ sẽ ít hơn và với hệ số 0,9.

Sulfide trong đất trầm tích

Sự hình thành hydrogen sulfide ở đất trầm tích chủ yếu là kết quả của quá trình khử sulfate bởi các vi sinh vật.

Quá trình khử sulfate xuất hiện ở thế oxy hóa khử thấp hơn là cần thiết cho quá trình khử sắt và mangan bởi các vi sinh vật.

Do đó, sắt (hóa trị II) mangan (hóa trị II) thường có ở những nơi hydrogen sulfide được sinh ra.

Sắt, mangan và các kim loại khác phản ứng với hydrogen sulfide một cách nhanh chóng để tạo thành sunfide kim loại không tan mà kết tủa.

Quá trình này thường làm giảm nồng độ hydrogen sulfide trong đất trầm tích, nhưng đã có báo cáo về nồng độ trên 100 mg/L hydrogen sulfide ở một số loại đất trầm tích.

Hydrogen sulfide trong đất trầm tích có thể khuếch tán vào trong lớp nước mặt bên trên, cũng có thể được trộn vào cột nước bởi hoạt động sinh học và xáo trộn trầm tích do kéo lưới và các dòng nước mạnh do gió hoặc thông khí cơ học.

Nếu tốc độ hydrogen sulfide khuyếch tán vào nước vượt quá tốc độ oxy hóa của nó thì sẽ phát hiện được nồng độ của độc tố tiềm tàng này trong cột nước – đặc biệt là trong lớp nước cao vài cm trên bề mặt phân giới giữa đất trầm tích và nước.

Độc tính

Các giá trị LC50 96 giờ (gây chết 50% sinh vật thí nghiệm trong 96 giờ) của hydrogen sulfide đối với các loài cá nước ngọt nằm trong khoảng 20-50 µg/L, các nồng độ gây căng thẳng và làm cho cá dễ nhiễm bệnh còn thấp hơn nhiều. Một cách đo độc tính – LC50 phản ánh nồng độ của một hợp chất trong nước làm chết 50% động vật thí nghiệm trong một thời gian đã xác định, ví dụ như LC50 96 giờ.

Lý tưởng là cá nước ngọt không nên phơi nhiễm ở nồng độ hydrogen sulfide trên 2 µg/L trong thời gian dài. Tôm và các loài hải sản khác có xu hướng chống chịu được hydrogen sulfide hơn các loài nước ngọt.

Các giá trị LC50 96 giờ của hydrogen sulfide đối với các loài sinh vật biển nằm trong khoảng 50-500 µg/L.

Tuy nhiên, nồng độ hydrogen sulfide có lẽ không nên vượt quá 5 µg/L trong các ao nuôi trồng thủy sản nước lợ có nồng độ nước biển cao nhất. Như với cá nước ngọt, nồng độ hydrogen sulfide cao làm các loài sinh vật biển dễ mắc bệnh hơn – đặc biệt là bệnh Vibriosis ở tôm​​.

Các nghiên cứu ở các hệ thống đất và nước trong phòng thí nghiệm được thực hiện tại Đại học Texas A & M đã đưa ra nồng độ sulfide cao trong nước ở lỗ rỗng trầm tích không ảnh hưởng đến tôm, miễn là bề mặt phân giới giữa đất và nước duy trì ở tình trạng hiếu khí và nồng độ oxy hòa tan trong cột nước là 70% oxy bão hòa hoặc cao hơn.

Các nghiên cứu cũng đã cho thấy nguy cơ độc tính hydrogen sulfide tăng khi pH đất trầm tích và nước thấp hơn.

Cách đo

Cách đo tổng nồng độ sulfide là một công việc phức tạp bằng các phương pháp thí nghiệm chuẩn, nhưng người nuôi trồng thủy sản có thể sử dụng bộ dụng cụ đo hydrogen sulfide để phân tích tổng sulfide dễ dàng hơn. Các bộ dụng cụ này cho số liệu tương đối đáng tin cậy.

Tất nhiên, ước lượng nồng độ hydrogen sulfide từ tổng nồng độ sulfide đòi hỏi số liệu về nhiệt độ nước và pH (Bảng 1).

Thường có thể phát hiện được sự xuất hiện của hydrogen sulfide là do có mùi trứng thối. Hydrogen sulfide có thể đo được trong nước thường có nghĩa là nồng độ oxy hòa tan trong nước hoặc tại bề mặt phân giới giữa đất trầm tích và nước ở mức thấp, nên tăng cường sục khí.

Bảng 1. Các hệ số để ước tính nồng độ hydrogen sulfide từ nồng độ tổng sulfide đo được. Đối với nước biển, nhân các hệ số với 0,9.

pH

Nhiệt độ (° C)

 

16

18

20

22

24

26

28

30

32

5,0

5,5

6,0

6,5

7,0

7,5

8,0

8,5

9,0

0,993

0,977

0,932

0,812

0,577

0,301

0,120

0,041

0,013

0,992

0,976

0,928

0,802

0,562

0,289

0,114

0,039

0,013

0,992

0,974

0,923

0,792

0,546

0,275

0,107

0,037

0,012

0,991

0,973

0,920

0,781

0,530

0,263

0,101

0,034

0,011

0,991

0,971

0,914

0,770

0,514

0,250

0,096

0,032

0,010

0,990

0,969

0,908

0,758

0,497

0,238

0,090

0,030

0,010

0,989

0,967

0,903

0,746

0,482

0,227

0,085

0,029

0,009

0,989

0,965

0,897

0,734

0,466

0,216

0,080

0,027

0,009

0,989

0,963

0,891

0,721

0,450

0,206

0,076

0,025

0,008

Quản lý

Như đã đề cập ở trên, các dòng nước do sục khí tạo ra có thể làm xáo trộn trầm tích, tạo thuận lợi để trộn hydrogen sulfide vào trong nước, nhưng các lợi ích tích cực của việc đưa thêm oxy bằng cách sục khí có tác dụng hơn nhiều.

Tuy nhiên, các thiết bị sục khí nên được lắp đặt theo cách giảm thiểu xáo trộn đất trầm tích.

Các cách thực hành chính để giảm thiểu nguy cơ độc tính của hydrogen sulfide là cho ăn thận trọng để tránh thức ăn bị lãng phí ở đáy ao, sục khí nhiều để tránh mức oxy hòa tan thấp và tạo một dòng nước chảy có thêm oxy ngang qua bề mặt phân giới giữa đất và nước, bón vôi để ngăn chặn chất lắng đọng và nước có tính axit.

Nên phơi kỹ đáy ao giữa các vụ. Đất trầm tích, bùn đáy ở những chỗ quá sâu để có thể khô hoàn toàn nên rút bỏ khỏi ao và đáy ao có tính axit nên được rải vôi.

Một số sản phẩm đôi khi được sử dụng cho ao vì chúng có khả năng làm giảm hydrogen sulfide.

Các sản phẩm này như là dùng kali permanganate ở nồng độ cao hơn nồng độ hydrogen sulfide sáu đến tám lần – permanganat có thể oxy hóa sulfide.

Các hợp chất sắt như oxit sắt đã được sử dụng cho đất trầm tích theo tỷ lệ 1 kg/m2 hoặc nhiều hơn để kích thích hydrogen sulfide trong nước ở lỗ rỗng đất trầm tích kết tủa thành sulfide sắt

. Dùng natri nitrat cho nước có thể giúp duy trì điều kiện có thêm oxy tại bề mặt phân giới giữa nước và đất, làm giảm cơ hội hydrogen sulfide khuếch tán vào trong nước.

Chế phẩm sinh học (men vi sinh,men tiêu hóa) thường được sử dụng trong ao với niềm tin sẽ làm giảm nguy cơ độc tính của hydrogen sulfide.

Vi khuẩn oxy hóa lưu huỳnh có sẵn trong ao nuôi và không biết chắc là các xử lý bằng men vi sinh (probiotic) có hiệu quả để loại bỏ hydrogen sulfide. Zeolite đôi khi được cho là hấp thụ hydrogen sulfide, nhưng tỷ lệ xử lý cần thiết nhằm có hiệu quả sẽ là quá nhiều để có giá cả phải chăng.

Hình 1. Ảnh hưởng của pH trên tỷ lệ tương quan của H2S, HS- và S2- 

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/hydrogen-sulfide-doc-nhung-co-the-quan-ly-duoc-36707.html

Missouri GAA nghiên cứu bệnh dịch EMS

Báo cáo theo từng quốc gia phản ánh về tình hình EMS vào mùa xuân 2014:

MG – Đường ruột / HP – Gan tụy / ST – Dạ dày

Trung Quốc: Năm khu vực nuôi tôm xuất hiện tỷ lệ mắc bệnh từ thấp đến trung bình, trong khi đó hai vùng sông Châu Giang và Trạm Giang thuộc miền nam tỉnh Quảng Đông có tỷ lệ mắc bệnh EMS từ trung bình đến cao. Một trong những khó khăn ở Trung Quốc là các bệnh khác có thể bị nhầm lẫn là EMS.

Việt Nam: Giá cao khiến người nuôi thả mật độ dày cho dù EMS liên tục xuất hiện. Tuy nhiên khi giá giảm thì người nuôi thả giống ít ao hơn.

Thái Lan: Thái Lan lại phải đang chịu đựng các vấn đề nặng nề của EMS. Tại nhiều trang trại, tỷ lệ thất bại hơn 30 % trong 40 ngày nuôi đầu tiên. N

goài ra, ba tháng thời tiết hơi lạnh đã làm giảm sản lượng. Kết quả là sản lượng quý 1 chỉ khoảng 30.000 tấn so với 100.000 tấn năm ngoái. Giống như Việt Nam, giá giảm đang khiến một số người nuôi thả ít ao hơn.

Malaysia: Hầu hết sản lượng ở các vùng vẫn thấp, nhưng các trang trại lớn do Agrobest vận hành đang nhìn thấy kết quả cải thiện một cách ổn định.

Mexico: EMS tiếp tục được báo cáo ở Sinaloa và một số trang trại ở Sonora.

Các trang trại mới khởi động ở các bang duyên hải miền đông Tamaulipas, Campeche, Tabasco và Yucatan, toàn bộ ở Vịnh Mexico và cách xa khỏi các trang trại nuôi tôm ở duyên hải miền tây đã bị EMS tấn công.

Ấn Độ: Các báo cáo gần đây từ Ấn Độ khá khả quan khi các xét nghiệm tại các trang trại nuôi tôm ở Andhra Pradesh và Tamil Nadu nhận thấy “không có dấu hiệu của EMS”

Các xét nghiệm này do Tiến sĩ Lightner thuộc Đại học Arizona giám sát, ông chính là người giúp phát hiện ra tác nhân gây bệnh và phát triển các xét nghiệm ADN cho bệnh này.

Ấn Độ, Indonesia và Ecuador đều không nhiễm EMS – là các nước sản xuất tôm chính hiện nay trên thế giới và đều đang tăng sản lượng.

Bước tiếp theo trong việc kiểm soát EMS toàn cầu sẽ là một nghiên cứu bệnh dịch EMS để nhận biết các quy trình thực hành tốt nhất nhằm tránh EMS ở các trang trại nuôi, các trại giống và các cơ sở sản xuất tôm bố mẹ.

Giai đoạn này sẽ được tài trợ bởi dự án Allfish của Ngân hàng Thế giới, Quỹ nghiên cứu Ngành Thủy sản của Viện Thủy sản Quốc gia và công ty CP Prima của Indonesia.

GAA sẽ thực hiện quản lý dự án nghiên cứu bệnh dịch – dự án sẽ bắt đầu với một cuộc khảo sát toàn diện để xác định các trang trại bị tác động bởi EMS như thế nào và các tác động ở mức thấp, trung bình hay là cao thế nào.

Kết quả khảo sát sẽ được biên dịch và các chuyên gia BAP sẽ tham quan các trang trại được chọn để kiểm nhận các quy trình thực hành mang lại kết quả tốt và không tốt.

Các ngôn ngữ của nghiên cứu sẽ là tiếng Trung Quốc, Thái, Việt, Bahasa (Malaysia), Tây Ban Nha và một số phương ngữ Ấn Độ. Kết quả sẽ được trình bày tại hội nghị GAA GOAL ở Việt Nam vào ngày 7/10/2014.

Một ủy ban chuyên gia đã được thành lập để giám sát dự án và các thành viên trong dự án cũng đã cung cấp các thông tin sau đây về EMS:

• Có rất nhiều chủng EMS với mức độ độc tính khác nhau.

• EMS thường bị nhầm lẫn với các bệnh khác như bệnh đốm trắng và Taura.

• Khi EMS hình thành trong môi trường thì rất khó để kiểm soát bởi vì nó được lan truyền bởi tôm ăn chất đã nhiễm bệnh trong ao.

• Giảm bùn ao là một cơ chế kiểm soát tích cực.

• Thuốc kháng sinh không có hiệu quả. Mầm bệnh EMS đã phát triển đề kháng với hầu hết các loại thuốc kháng sinh.

• Một số loại thức ăn bổ sung có thể có tác dụng bảo vệ tích cực.

• Khuyến nghị một chương trình lai giống tôm bố mẹ tâp trung mà ở đó tôm bố mẹ bị phơi nhiễm với EMS và các con sống sót tốt nhất sẽ được chọn để sản xuất giống lại. Mục đích của chương trình này là để xác định khả năng di truyền đề kháng EMS.

• Thức ăn tôm giống như giun biển và hàu có thể là các vật mang mầm bệnh và có thể lây nhiễm cho tôm bố mẹ. Ngoài ra một số tôm ở địa phương có thể là vật mang mầm bệnh không có triệu chứng bị bệnh. An toàn sinh học của các trại giống sẽ phải được tăng cường.

• Ở cấp độ trang trại, áp dụng biofloc, nuôi ghép với cá rô phi và kiểm soát cho ăn có thể giảm bớt tác động của EMS.

GAA và Ngân hàng Thế giới đang tiến hành xác định một số vấn đề thường gặp khi bùng nổ dịch bệnh nuôi trồng thủy sản.

Một số vấn đề phổ biến đối với bệnh dịch nuôi trồng thủy sản bao gồm mức độ lân cận giữa các trang trại, vận chuyển động vật không được kiểm soát, thiếu các quy trình vệ sinh và chia sẻ thông tin không đầy đủ.

Điều này đề xuất việc quản lý khu vực bao gồm lựa chọn địa điểm thích hợp của các trang trại, từng bước một kiểm soát sản xuất về vận chuyển đáp ứng đủ để bảo đảm sản xuất tôm.

Nói chung, dường như sản lượng tăng vọt ở các khu vực không bị tác động như Ấn Độ, Indonesia và Ecuador – sẽ giảm bớt tình trạng thiếu hụt nguồn cung đáng kể đã xảy ra năm 2013

Nhưng về lâu dài các chiến lược quản lý khả thi có thể được áp dụng trên quy mô quốc gia sẽ cần phải được thông qua, giống như đã làm khi bệnh đốm trắng tàn phá sản lượng tôm nuôi vào đầu những năm 1990.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/missouri-gaa-nghien-cuu-benh-dich-ems-36714.html

Hội chứng EMS và giải pháp sống chung với với dịch bệnh

I. Tổng quan về EMS:

Người tìm ra bệnh: TS. Lightner và cộng sự

Vi khuẩn gây bệnh: Vibrio parahaemolyticus

Hội chứng EMS và giải pháp sống chung với với dịch bệnh

Cách thức gây bệnh: VK (vi khuẩn) gây bệnh Vibrio parahaemolyticus bị nhiễm thực thể khuẩn đi vào ruột tôm qua đường miệng, bám vào thành ruột. Sau đó sinh ra độc tố gây tổn thương gan tụy, làm tôm phát bệnh nên có tên gọi khác của EMS là bệnh hoại tử gan tụy cấp (hay nôm na là bệnh gan tụy).

Đặc điểm chung của bệnh: Có mặt mọi nơi, mọi lúc. Nhưng bùng phát thành dịch khi thời tiết nắng nóng cực đoan, hay nắng nóng đan xen mưa to (hoặc mây mù) bất chợt. Những ao nuôi quản lý môi trường kém thường có tỉ lệ phát bệnh rất cao.

* Nên lưu ý: EMS THÍCH – Độ mặn cao (độ mặn dưới 5/1000, gần như không có nguy cơ bị EMS. Điều này cho thấy, trong nước ngọt hoàn toàn không có VK gây bệnh này)

– pH cao. Ao nuôi có mật độ tảo cao, dày.

– Nhiệt độ cao, nước ao ấm, nóng

II. EMS dưới góc nhìn thực tế:

– Nhiệt độ càng cao, ao nuôi càng dễ phát bệnh.

– Ao nuôi có mật độ tảo dày, màu xanh đậm, dễ phát bệnh.

– Ao nuôi cho ăn nhiều, quản lý kém về môi trường, dễ phát bệnh.

Thống kê cho thấy: Các ao có màu xanh đậm, mật độ tảo dày có tỉ lệ chết trên 95%

Những ao nuôi sống sót thường có màu xanh nhạt, màu nâu trà, hoặc không có tảo (màu nước đục).

Theo các nhà nghiên cứu, thì trong các chủng của tảo, tảo có màu xanh là tảo có mức độ quang hợp mạnh nhất, nên làm tăng pH cao nhất.

Thống kê này, không có mô hình nuôi tôm theo công nghệ cao, như biofloc, nuôi tôm trong nhà.

– 1/ Những ao nuôi có tính đối phó với EMS như dùng kháng sinh định kì hoặc ngay từ đầu vẫn chết như thường.

– 2/ Những ao nuôi có tính đối phó với EMS như dùng thuốc sát trùng định kì 7 – 10 ngày / lần vẫn chết như thường.

– Những ao nuôi kết hợp cả 2 cách trên vẫn chết như thường.

Kết luận sơ bộ:

– Kháng sinh không thể phòng hay chữa được bệnh EMS.

– Thuốc sát trùng có diệt được vi khuẩn (trên lý thuyết).

Nhưng điều đó là không hoàn toàn trên thực tế.

Bởi sau khi sát trùng ao nuôi, một số cá thể VK sống sót, có tốc độ nhân bản nhanh chóng mặt và có khả năng lờn thuốc. Như vậy, việc loại trừ mầm bệnh trong ao bằng cách sát trùng ao nuôi thường xuyên là cách nghĩ không thực tế.

* Giải pháp… sống chung với dịch bệnh

Lý luận từ thực tế:

Những ao nuôi có màu xanh đậm, tảo dày trước khi phát bệnh vẫn ăn tốt, phát triển tốt (kể cả những ao nuôi theo cách đối phó 1/ và 2/, hoặc cả 2).

Thậm chí, có ao còn ăn rất mạnh, lớn rất nhanh ở tuổi tôm sau 1 tháng tuổi. Nhưng chỉ sau một thời gian liên tục nắng nóng cực đoan hay đang nắng nóng, có mưa đột ngột thì ao nuôi phát bệnh và chết nhanh trên diện rộng.

Hiện tượng dễ thấy là tôm nuôi đột ngột bỏ ăn hoặc giảm ăn đáng kể, tôm suy yếu nhanh trong cử ăn chiều. Và đến sáng, có hiện tượng tôm búng nhảy trên mặt ao, bơi lập lờ, hoặc bơi xoay vòng. Tôm rớt đáy rất nhanh và số lượng tăng dần.

Câu hỏi đặt ra, là tại sao, sự việc diễn ra bất ngờ và nhanh như vậy?

– Ao nuôi bị khí độc?

Câu trả lời là: không hợp lý. Bởi đó là những ao nuôi mà khí độc chắc chắn được loại bỏ bằng vi sinh liều cao định kì hay bằng yucca.

Hơn nữa, sự ngộ độc ao nuôi tôm là rất hiếm. Thông thường, ao tôm có khí độc thì tôm sẽ có biểu hiện mệt mỏi, có khi phải nổi đầu nếu không được giải độc tức thì.

– Ao nuôi bị thiếu oxy về đêm?

Câu trả lời: vẫn không hợp lý. Trước khi thiếu oxy hòa tan trầm trọng, để dẫn đến ngạt thở mà chết, thì trước đó tôm sẽ có biểu hiện mệt mỏi, không ăn nổi cữ sáng, và có khi cũng phải nổi đầu.

* Vậy thì, ao nuôi có biến động gì để tôm nuôi suy yếu nhanh và chết nhanh như vậy?

Giả sử có một ranh giới, giữa cái chết đột ngột và tôm đang ăn mạnh, thì cái ranh giới ấy đúng là mập mờ, và không thể xác định. Nhưng chắc chắn là có cái ranh giới này.

Và trong ao, đối tượng nào làm biến động môi trường nhanh đến vậy, để rồi tôm nuôi thích ứng không kịp, nên bị sốc, giảm sức đề kháng nhanh, suy yếu nhanh và phát bệnh?

Ai cũng biết; tảo cần cho ao nuôi tôm, bởi tảo tạo ra oxy, tạo ra hệ sinh thái cho ao tôm, nhờ đó tôm nuôi sống và phát triển. Môi trường ao nuôi tốt là môi trường hội đủ các điều kiện:

– pH từ 7.5 đến 8.5 và dao động 0.3 (tài liệu nuôi tôm khuyến cáo 0.5, là…xưa rồi);

– Kiềm trên 100 (nên 130 khi được 1 tháng tuổi);

– Độ trong 35cm trở lên;

– Độ sâu thấp nhất 1,2m;

– Các loại khí độc 0.1 hoặc là 0.

Người nuôi tôm không dễ dàng tạo ra pH như trên, độ trong như trên khi tôm ở ngưỡng 1 tháng tuổi, thì việc giữ được 2 yếu tố ấy có trong ao nuôi tôm là một chuyện quá khó khăn.

Bởi lẽ, độ trong, và pH nước đều phụ thuộc vào mật độ tảo.

Tảo phát triển nhanh hay chậm, dày hay mỏng lại phụ thuộc vào thời tiết và mức độ hữu cơ trong ao.

Thời tiết thì do Trời làm, còn lượng hữu cơ trong ao thì do người nuôi tôm làm (cho tôm ăn); từ đó cho thấy, việc quản lý tảo (yếu tố làm biến động ao hàng ngày, hàng giờ) là chuyện cực kì khó.

Người nuôi làm nhiều cách (đối với người am hiểu) để khống chế tảo như: đánh vi sinh định kì hoặc cắt tảo bằng vi sinh, bằng vôi, bằng hóa chất.

Nhưng đến một lúc nào đó, người nuôi tôm không thể kiểm soát được tảo nữa. Tảo càng lên nhanh theo nhu cầu ăn của tôm nuôi (theo thời gian) và tình hình nắng nóng (theo cường độ bức xạ nhiệt).

Sự bùng phát này (hoặc suy giảm tảo, rớt tảo khi nắng mưa xen kẽ đột ngột) làm tăng hay giảm pH đột ngột, làm biên độ pH sáng chiều giãn rộng. Điều này (chỉ có thể) đồng nghĩa với việc làm tăng tính độc của nước (NH3 hay H2S), nhưng chắc chắn làm tôm stress, suy giảm đề kháng, tạo cơ hội cho mầm bệnh bùng phát tức thì.

Đó là bằng chứng, chứng minh cho những ao nuôi tôm có màu nước ao xanh đậm, tảo dày hoặc môi trường ao kém, ao tôm có dấu hiệu tôm yếu bị LÊN ĐƯỜNG sau một vài cơn mưa hay nắng nóng kéo dài.

Trong vụ nuôi tôm đầu năm 2014 này, hầu hết những ao tôm sống sót đều mắc bệnh phân trắng.

Có 1 điểm chung nổi bật của những ao này là người nuôi gần như chăm chú chữa trị bệnh phân trắng mà quên đi chuyện EMS đang hoành hành. Và thông thường khi chữa trị phân trắng thì việc đầu tiên là sát trùng ao, kế tiếp thay nước và cho ăn thuốc đặc trị hoặc men vi sinh liều cao loại chất lượng cao.

Việc thay nước nhiều lần (theo kinh nghiệm truyền miệng) và việc sát trùng 1 hay 2 lần trong quá trình chữa trị phân trắng vô tình làm giảm đi đáng kể mật độ tảo, dẫn đến việc giảm pH nước từ từ, làm thu hẹp biên độ pH trong ngày.

Do bệnh có nguyên nhân từ thời tiết, nên chuyện chữa trị phân trắng không thể hết hoàn toàn, mà chỉ có tác dụng kéo dài tuổi tôm, tăng size để có giá, nên việc thay nước cũng diễn ra kéo dài, làm mất nguy cơ bùng phát tảo, là tác nhân chủ yếu làm biến động môi trường ao nuôi tức thời, thông qua việc làm tăng pH cũng như làm tăng biên độ dao động pH trong ngày (pH chiều trừ đi pH sáng).

So sánh và đối chiếu sau khi thống kê số ao bị sự cố và số ao sống sót, có thể kết luận rằng:

Tảo là nguyên nhân trực tiếp làm biến động ao nuôi thông qua pH.

Sự biến động này vô hình và có sức mạnh vô cùng lớn (có thể làm tăng tính độc NH3 hay H2S trong ao), đủ làm suy yếu hệ miễn dịch của tôm nuôi, làm tăng khả năng cảm nhiễm bệnh và phát bệnh.

Kết luận này phù hợp với nguyên lý 3 vòng tròn gây bệnh trong nuôi tôm.

Có nghĩa là môi trường ao nuôi luôn tồn tại song song 2 thực thể: mầm bệnh và tôm. Loại trừ mầm bệnh ra khỏi ao nuôi hoàn toàn là việc làm bất khả thi. Chỉ có cách SỐNG CHUNG VỚI DỊCH BỆNH một cách hòa bình theo tính toán mang tính chiến lược (chứ không phải đối phó) là cách tốt nhất.

Mầm bệnh lúc nào cũng có trong ao, sát trùng ao định kì không phải là cách tốt nhất để loại trừ mầm bệnh.

Chỉ làm sao để mầm bệnh không thể bùng phát.

Do đó, người nuôi nên chú trọng đến sức khỏe tôm nuôi và luôn giữ môi trường ao nuôi ổn định về pH, chất lượng nước ao; không để lượng hữu cơ (phốt phát PO4) trong ao tăng lên, không để tảo có cơ hội bùng phát khi nắng nóng.

Người nuôi tôm không thể loại trừ được mầm bệnh, nhưng có thể làm được 2 việc nêu trên (tăng cường sức khỏe cho tôm và giữ môi trường ao nuôi tôm luôn ổn định về pH, trong lành về chất lượng nước, sạch sẽ về chất hữu cơ), thì dù có mầm bệnh trong ao, tôm vẫn không phát bệnh, do các yếu tố gây bệnh bị mất đi.

III. Nuôi tôm MỞ thời EMS.

Khi người ta bắt đầu nuôi tôm (cách đây khoảng 15 năm), người ta nuôi tôm không phải như bây giờ.

Khi thời hoàng kim của nghề nuôi tôm đạt đỉnh (khoảng năm 2001), thì người nuôi tôm tìm ra cách thức nuôi mới phù hợp với tình hình mới.

Nuôi tôm khép kín (và sau này là nuôi tôm tuần hoàn) với cách nghĩ giảm thiểu mầm bệnh bên ngoài xâm nhập vào ao nuôi để giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh của tôm nuôi.

Người ta làm nhiều cách, nhưng tôm vẫn chết như thường. Có người không chịu THUA, nên đưa ra ý tưởng táo bạo và lạ…lẫm hơn.

Họ cho rằng, nuôi tôm tập trung dễ bị lây lan mầm bệnh. Không cua còng bò sang, thì chim cò đảo đến. Nguồn nước cũng mang luôn mầm bệnh. Vậy là họ loại trừ các yếu tố lây lan ấy, bằng cách nuôi tôm TRÊN NÚI.

Nước mặn thì họ chở nước ót bằng xe bồn rồi pha độ mặn với nguồn nước ngọt trong lành ở nơi gần như là đầu nguồn. Những ao nuôi tôm được hình thành công phu, bài bản đầy tham vọng. Sau vài năm, vùng nuôi tôm trên núi ấy bị phá sản.

Người ta không hiểu tại sao nuôi như thế, tôm vẫn chết. Giả sử bây giờ, trên cung Trăng kia, người ta nuôi được tôm, liệu tôm có chết hay không? Chắc chắn 1 ngày nào đó, tôm cũng chết. Bởi ở đâu có tôm nuôi, ở đó có mầm bệnh của tôm.

Người nuôi tôm không dại gì nuôi tôm khi biết thời gian ấy, nhiệt độ chỉ từ 15 đến 20 độ. Nuôi trong thời gian ấy cho chết à? Không đốm trắng cũng bị taura. Không vượt qua được nó, thì tốt nhất là tránh nó.

Trong các tài liệu nuôi tôm hiện hành, người ta vẫn thấy cụm từ THAY NƯỚC.

– Thay nước để cải thiện chất lượng nước. Nhất là khi ao nuôi bị QUÁ TẢI về hàm lượng cơ chất (chất hữu cơ).

– Thay nước để loại bỏ chất độc hại xông lên từ đáy ao. Dù đã xử lý vi sinh, nhưng sau đó không thay nước, thì khí độc vẫn có mặt trong ao. Vi sinh là xử lý tức thời.

– Thay nước để giảm pH nước là chuyện trước mắt, giảm mật độ tảo là chuyện lâu dài. (bởi pH nước là tảo quyết định) trong khi ta cắt tảo bằng hóa chất vi sinh hay vôi bất thành.

– v.v….

Nếu làm 1 phép so sánh: Lấy mẫu nước trong ao nuôi tôm có tuổi trên 35 ngày, với mẫu nước chưa qua xử lý ở ao lắng (chứ đừng nói là đã qua xử lý) thì mẫu nước nào còn tốt hơn? (ít hữu cơ, ít VK, ít mùi, ít độc…). Có phải là mẫu nước ở ao chứa lắng không?

Những người nuôi tôm, nhìn đâu cũng thấy virut, vi khuẩn, mầm bệnh thì sợ thay nước. Bởi thay nước đồng nghĩa đưa các thứ ấy vào ao nuôi. Có người còn bảo lưu ý kiến rằng; thay nước cho tôm chết à?

Họ suy nghĩ vậy cũng phải, bởi chính họ hay họ được nhìn thấy 1 ao tôm thay nước bị chết hẳn hoi mà.

Thay nước cơ bản có nhiều lợi ích, tác dụng trong từng mục đích. Nhưng không khéo, thay nước CÓ THỂ làm chết tôm.

Có 1 thực tế mà người nuôi tôm quên mất các khuyến cáo khi thay nước.

– Thay nước lúc tôm nuôi đang khỏe mạnh (ăn mạnh hay yếu không thành vấn đề, chưa hẳn ăn không mạnh là tôm đã yếu);

– Thay nước lúc thời tiết tốt, ổn định.

* Tôm yếu thay nước, sốc stress dễ cảm nhiễm bệnh, phát bệnh.

* Thời tiết không tốt, không ổn định thì làm tôm nuôi dễ mệt mỏi, tôm không khỏe.

Nuôi MỞ là cách nuôi thoáng, thay nước khi các chỉ tiêu chất lượng nước ao vượt tầm kiểm soát của người nuôi.

Nhưng muốn nuôi mở, người nuôi phải xác định sống chung với mầm bệnh. Tức là thừa nhận mầm bệnh luôn có trong ao tôm của mình, để khi ta thao tác hay tác động đến ao tôm, thì mầm bệnh chỉ bị khống chế chứ không có cơ hội bùng phát.

Khi nhận thức được như vậy, người nuôi sẽ luôn:

– TRÂN TRỌNG sức khỏe của tôm nuôi, nên luôn tăng cường sức đề kháng cho tôm bằng các sản phẩm chống stress (vitamin tổng hợp) cho ăn hoặc tạt nước (tạt nước cho hiệu quả tốt, bởi tôm hấp thu các vitamin này thông qua mang).

Nhất là khi thấy tôm yếu, xuống sức (thông qua việc thăm nhá, vó hằng ngày) hay khi thấy trời chuyển mưa, nắng hoặc nắng nóng kéo dài hay tôm bị lột xác.

– GIỮ GÌN môi trường ao nuôi luôn ỔN ĐỊNH về pH, bằng vi sinh, vôi (cần thiết thì dùng hóa chất như để cắt hay giảm mật độ tảo). Để giảm cơ chất trong ao, làm cho tảo thiếu thức ăn mà không phát triển được, người ta bón xuống ao (sau 20h) 1 lượng vôi CaCO3 theo tỉ lệ: 1kg vôi / 2,5kg thức ăn tôm.

Có nghĩa là, trong ngày, ta cho tôm ăn 25kg thức ăn, thì ban đêm ta bón cho ao nuôi tôm 10kg vôi. Lượng vôi này sẽ trung hòa lượng phốt phát P04 của tôm ăn 25 kg thức ăn kia thải ra.

Nuôi MỞ là cách đơn giản để TRÁNH NÉ bệnh gan tụy trong thời điểm nắng nóng hiện nay.

Điểm nổi bật của nuôi mở là THAY NƯỚC khi các chỉ tiêu chất lượng của môi trường VƯỢT NGƯỠNG cho phép. Trong đó, thay nước là cách tốt nhất, nhanh nhất, rẻ tiền nhất, hiệu quả nhất để giảm pH tức thời (hoặc ít ra, ngăn chặn kịp thời sự gia tăng pH tức thời).

Về lâu dài, thay nước làm giảm mật độ tảo, làm mất khả năng bùng phát khi thời tiết nắng nóng cực đoan. Điều đó đồng nghĩa với việc làm mất khả năng gây bệnh, phát bệnh trong ao tôm (dù mầm bệnh hiện hữu trong ao).

Một số lưu ý khi thay nước:

– Giảm tảo, giảm pH nên cấp nước vào ao nuôi ban đêm (sau khi đã rút nước ao ra ban ngày).

– Cấp nước vào ao nuôi ban ngày có thể làm tảo phát triển (tảo đang quang hợp mạnh, nên tăng sinh khối cũng mạnh. Cấp nước làm tăng không gian sống của tảo nên giúp tảo phát triển thêm).

– Nếu tôm đang yếu, trước khi cấp nước 2 ngày nên tăng cường sức khỏe cho tôm (tạt sản phẩm chống stress xuống ao).

– Các thông số pH, độ mặn, nhiệt độ của nước cấp và nước ao tôm chênh lệch không quá 0.5. Nếu quá, thì nên chạy sục khí khi cấp để trộn đều nước, chống sốc cho tôm.

Một số dấu hiệu biết tôm khỏe mạnh:

– Tôm khỏe có thịt trong, săn chắc, sáng bóng.

– Có phản xạ tốt như búng khỏi mặt nước, búng khỏi nhá khi giở (cất) nhá lên khỏi mặt nước. Số tôm còn lại trong nhá búng nhảy liên tục, nhưng thịt tôm vẫn trong, không thấy trắng đục hay đục cơ, cong thân.

* Khi thấy tôm không khỏe, nên trộn thức ăn vitamin tổng hợp liều cao và tạt.

Nước:

* Cần đo pH 2 lần trong ngày (sáng chiều).

– Cần ghi chép cẩn thận pH từng ngày để đối chiếu từng ngày.

– Khi thấy pH dao động, biên độ trong ngày lớn, mật độ tảo dày, ao nước lên xanh nhanh, trời nắng nóng cực đoan, tốt nhất thay nước gấp 30%, thay liên tiếp 2 ngày và kiểm tra lại pH. Nếu pH còn cao, biên độ còn lớn, tiếp tục thay nước.

– Đánh vi sinh liều cao + mật đường để ổn định pH sau khi thay nước hoặc pH ao nuôi đang ổn định.

* Nên nhớ tảo bùng phát là thủ phạm giúp EMS bùng phát trong ao khi thời tiết nắng nóng hay biến động. Bởi tảo bùng phát làm tăng pH đột ngột, làm biên độ pH trong ngày lớn, làm biến động môi trường, dẫn đến làm tôm sốc nặng do không theo kịp biến động môi trường, nhanh chóng suy giảm sức đề kháng, dễ cảm nhiễm bệnh và phát bệnh (vì mầm bệnh luôn hiện hữu trong ao).

Xin chia sẻ kinh nghiệm và vốn hiểu biết ít ỏi của mình với quý bà con, anh chị em nuôi tôm. Kính chúc quý vị nhiều… sức khỏe để có… sức nuôi tôm, và nuôi tôm thành công.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/hoi-chung-ems-va-giai-phap-song-chung-voi-voi-dich-benh-36721.html

Cách tạo ôxy trong ao

Hàm lượng ôxy hòa tan

Động vật nói chung và tôm nói riêng đều rất cần ôxy để duy trì hoạt động sống. Nhu cầu ôxy của tôm tùy thuộc từng loài, từng giai đoạn phát triển của chúng.

Cách tạo ôxy trong ao

Hàm lượng ôxy hòa tan trong nước là do sự khuếch tán không khí vào nước, được sinh ra trong quá trình quang hợp của thực vật thủy sinh (rong tảo).

Lượng ôxy này được tôm tiêu thụ bởi hô hấp và quá trình phân hủy mùn bã hữu cơ, hoạt động của vi khuẩn cùng các phản ứng hóa học trong nước.

Quá trình quang hợp chỉ xảy ra ban ngày nhưng quá trình hô hấp và phân hủy lại xảy ra cả ngày lẫn đêm.

Do vậy sẽ dẫn đến có sự thay đổi lớn hàm lượng ôxy hòa tan trong nước.

Buổi tối, quang hợp không xảy ra, nhu cầu tiêu thụ ôxy trong ao không thay đổi dẫn đến lượng ôxy hòa tan giảm dần và xuống thấp nhất vào thời gian từ nửa đêm đến gần sáng.

Hiện nay, nuôi tôm công nghiệp mật độ thả cao và ít thay nước, ngoài hàm lượng ôxy trong nước được tôm tiêu thụ thì một lượng ôxy cần thiết để phân hủy chất thải và các khí độc trong ao là rất lớn.

Chính vì vậy, đảm bảo cung cấp đủ ôxy trong nước là rất cần thiết. Cần phải tính toán và bố trí các thiết bị sục khí phù hợp, nhằm duy trì hô hấp của tôm và cân bằng hệ sinh thái trong ao nuôi.

Các biện pháp tạo ôxy

Để đảm bảo nhu cầu ôxy hòa tan trong nước ao nuôi tôm, cần có những biện pháp như gây nuôi tảo, lắp đặt dàn quạt nước và hệ thống sục khí.

Gây nuôi tảo

Tảo là nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm và cũng là nguồn cung cấp ôxy hòa tan quan trọng ao nhờ quang hợp.

Tảo phát triển mạnh hay yếu phụ thuộc hàm lượng dinh dưỡng trong nước. Vậy để duy trì và ổn định số lượng tảo trong nước, cần sử dụng một số loại bột ngũ cốc, bột cá… để gây màu nước, tăng số lượng tảo khi ao nghèo dinh dưỡng.

Đồng thời có thể dùng các loại hóa chất như vôi (CaO), các sản phẩm chứa Clo để giảm tảo trong ao khi chúng phát triển mạnh, nhằm tránh hiện tượng gây thiếu ôxy và ô nhiễm nước khi tàn.

Quạt khí

Bao gồm một trục được nối với trục mô tơ điện hoặc động cơ, trên trục có lắp 10 – 15 cánh quạt, cánh quạt có thể là cánh nhựa hoặc cánh lông nhím.

Với kết cấu vững chắc, khi vận hành quạt nước có thể tạo nhiều bọt nước, làm tăng lượng ôxy hòa tan.

Quạt cánh nhựa có giá rẻ được sử dụng nhiều trong các hộ nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh; ngoài những ưu điểm như cung cấp ôxy cho tôm nuôi, tạo nên dòng chảy kích thích sự vận động của tôm và quy tụ chất thải dư thừa vào một khu vực giữa ao đồng thời giúp thuốc, chế phẩm hóa chất được phân bố đều trong nước ao.

Tuy nhiên sử dụng quạt cánh sẽ không đưa được nhiều lượng ôxy hòa tan xuống tầng đáy để cung cấp cho tôm và phân hủy chất thải hữu cơ.

Đối với quạt lông nhím có thể tăng hàm lượng ôxy hòa tan và tạo dòng chảy gấp 2 lần so với quạt cánh.

Thực tế cho thấy quạt lông nhím có thể đưa được ôxy xuống tầng đáy cung cấp cho hô hấp của tôm và phân hủy của vi khuẩn phù hợp nuôi tôm thẻ chân trắng mật độ cao

. Nhưng quạt lông nhím chỉ phù hợp ao nuôi tôm đáy cát, đáy lót bạt. Nếu ao nhiều bùn và mùn bã hữu cơ, do lực tạo dòng chảy mạnh, quạt lông nhím sẽ làm nước ao bị vẩn đục nhanh, ảnh hưởng xấu đến hô hấp của tôm.

Hệ thống thổi khí

Hệ thống thổi khí được hút từ không khí và nén tạo áp suất cao trong máy nén; sau đó không khí được dẫn qua hệ thống ống và khuyếch tán vào nước qua ống nhựa đục lỗ nhỏ, đĩa đá bọt hoặc ống nhựa tổng hợp đã có khe nứt sẵn khi đúc.

Ôxy được khuyếch tán vào nước bằng sức ép từ bọt khí hình thành khi thổi, bọt càng nhỏ hiệu quả càng cao.

Ưu điểm của hệ thống này là có thể vừa vận hành vừa cho tôm, cá ăn;

Hàm lượng ôxy tạo ra cao hơn so với quạt nước cùng công suất và có thể duy trì hàm lượng ôxy hòa tan trong nước đạt trên 5 mg/lít vào thời điểm nửa đêm về sáng; Ít gây stress cho tôm và không sợ bị điện giật vì máy nén khí nằm trên bờ.

Tuy nhiên, do giá bán khá cao và trong quá trình sử dụng phải vệ sinh nhiều lần (do rong tảo, hầu hà bám lên ống, đá bọt làm tắc khí thoát ra) nên hệ thống này chủ yếu được sử dụng ở các trại sản xuất tôm giống và các mô hình nuôi tôm công nghệ cao trong nhà kính với diện tích không lớn.

Sục lủi là hệ thống được vận hành dựa trên nguyên lý chân vịt đặt trong nước (tầng giữa) và khi vận hành sẽ hút không khí bên trên đưa vào vòng xoay của chân vịt đang quay để ôxy dễ hòa tan vào nước.

Thiết bị này nhỏ, gọn, tính cơ động cao và dễ dàng di chuyển nhưng công suất không lớn nên thường được sử dụng ở các vèo ương dưỡng tôm và ao nuôi trong nhà bạt.

> Vì tôm nuôi thường ở mật độ cao nên dễ thiếu ôxy, nhất là thời gian sau 45 ngày thả nuôi. Khi đó, tôm có biểu hiện giảm ăn, chậm lớn và mang chuyển màu hồng; nếu tình trạng này kéo dài thì tôm sẽ bị nổi đầu và chết hàng loạt.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cach-tao-oxy-trong-ao-36729.html

Nhu cầu Lipid của tôm thẻ chân trắng

Mặc dù, tôm thẻ chân trắng góp phần quan trọng trong ngành công nghiệp nuôi tôm, nhưng các thông tin liên quan về nhu cầu phospholipid và cholesterol trong khẩu phần ăn của chúng ở giai đoạn tôm con (juvenile) còn rất hạn chế.

Nhu cầu Lipid của tôm thẻ chân trắng

Các tác giả đã làm một loạt các xét nghiệm để xác định nhu cầu và mối liên hệ giữa phospholipid và cholesterol cho tôm thẻ L.vannamei có trọng lượng 0,4 – 0,9 g.

Nghiên cứu cũng đánh giá thành phần hoạt tính lecithin từ dầu đậu nành.

Các thí nghiệm này đã được thực hiện trong nhà, với hệ thống bán tuần hoàn khép kín, thay 8% nước hàng ngày.

Phospholipid và tốc độ tăng trưởng của tôm

Phospholipid được biết như là thành phần của màng tế bào; nguồn tín hiệu thứ hai trong tế bào; nguồn choline, inositol, và axit béo; và tham gia vào quá trình chuyển hóa trung gian lipid.

Tôm có thể tổng hợp phospholipid, nhưng quá trình sinh tổng hợp này thường không thể đáp ứng nhu cầu trao đổi chất của chúng trong giai đoạn giống và ấu trùng.

Khẩu phần ăn chứa phospholipid, chẳng hạn như lecithin từ đậu nành và choline phosphatidyl tinh, thúc đẩy tôm tăng trưởng tối ưu và/hoặc chuyển đổi thức ăn trong khoảng 1 – 6,5%  đối với các loài khác nhau ở các giai đoạn khác nhau.

Trong các nghiên cứu của chúng tôi, lecithin từ đậu nành đã khử bớt dầu (97,6% không tan trong acetone) đã được sử dụng như một nguồn cung cấp phospholipid.

Các thành phần chính của lecithin là 25,7% phosphatidylcholine (PC), 21,7% phosphatidylethanolamine (PE), và 8,8% phosphatidylinositol (PI).

Kết quả cho thấy rằng khẩu phần ăn chứa phospholipid làm tăng tốc độ tăng trưởng của tôm rất đáng kể, với tác dụng thúc đẩy tăng trưởng chịu ảnh hưởng bởi khẩu phần cholesterol.

Hàm lượng cholesterol được tính toán trong khẩu phần ăn cơ bản là 0,06%.

Khi hàm lượng cholesterol tăng lên, hàm lượng phospholipid có khuynh hướng giảm.

Nhu cầu phospholipid trong khẩu phần ăn của tôm giống Lvannamei được ước tính là 3% ở mức 0,4% cholesterol, và lên đến 5% ở mức cholesterol bổ sung thấp hơn.

Cholesterol

Cholesterol có chức năng như một thành phần của màng tế bào, và là quan trọng trong việc duy trì độ nhớt của màng.

Nó cũng là một sterol chính trong tôm, một tiền chất của hormone steroid, và một thành phần của lipoprotein.

Tôm không thể tổng hợp cholesterol.

Hàm lượng cholesterol tối ưu trong khẩu phần thức ăn cho tôm đã được trình bày là 0,2 – 2%, và tùy thuộc vào loài, giai đoạn, và các thành phần khác trong khẩu phần thức ăn. Những nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng nếu không bổ sung phospholipid trong khẩu phần ăn của tôm, đòi hỏi cung cấp 0,35% cholesterol cần thiết cho sự tăng trưởng tối đa của L.vannamei. Phospholipid trong khẩu phần ăn có ảnh hưởng đáng kể đến nhu cầu cholesterol trên tôm.

Khi tăng hàm lượng bổ sung phospholipid, nhu cầu cholesterol trong khẩu phần ăn của tôm có xu hướng giảm.

Mối liên hệ giữa Phospholipid và Cholesterol

Phospholipid tăng cường vận chuyển lipid và giúp cho hấp thu, tiêu hóa lipid ở giáp xác.

Phospholipid cũng hoạt động như nơi bổ trợ acyl cho acyl transferase lecithin-cholesterol, để chuyển hóa cholesterol ngoại sinh thành este cholesterol, có nghĩa là tương tác giữa các phospholipid và cholesterol.

Kết quả thí nghiệm trong 6 tuần của chúng tôi về tốc độ tăng trưởng cho thấy, một sự tương tác có ý nghĩa giữa phospholipid và cholesterol trong khẩu phần ăn lên tăng trưởng của tôm giống L.vannamei.

Các phân tích sinh hóa cũng cho thấy thêm các hiệu quả tương tác của các hợp chất này trên lipid tổng số và nồng độ triglyceride trong gan, cũng như nồng độ cholesterol trong cơ.

Để giảm hàm lượng cholesterol đắt tiền trong khẩu phần thức ăn cho tôm, bằng cách bổ sung lecithin đậu nành mà không làm ảnh hưởng đến hiệu suất tôm nuôi.

Bổ sung phospholipid và PC tinh trong khẩu phần thức ăn cho thấy tác dụng khác nhau, không chỉ về tốc độ tăng trưởng tôm, mà còn về hàm lượng lipid và một phần trong các mô tôm.

Khẩu phần ăn bổ sung phospholipid dẫn đến lipid tổng số cao trong gan và lipid tổng số thấp trong cơ của tôm hơn khẩu phần ăn mà không bổ sung phospholipid.

Ngược lại, tăng PC tinh trong khẩu phần ăn lại giảm lipid tổng số, hàm lượng axit béo tự do, và phospholipid khác trong gan, nhưng không ảnh hưởng đến hàm lượng lipid tổng trong cơ tôm.

Kết luận

Nghiên cứu của chúng tôi kết luận rằng, việc bổ sung các phospholipid và cholesterol trong khẩu phần ăn là cần thiết cho tôm giống L.vannamei.

Có ảnh hưởng tương tác giữa phospholipid và cholesterol trên hiệu suất tôm.

Nhu cầu cholesterol có thể được giảm xuống khi tăng mức phospholipid trong khẩu phần ăn.

Một sự kết hợp của 0,05% cholesterol và 5% phospholipid đã được đề nghị cho nuôi tôm L.vannamei thâm canh.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nhu-cau-lipid-cua-tom-the-chan-trang-32525.html